Di tích

Hà Nội – mảnh đất ngàn năm văn hiến chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp cùng những di tích lịch sử mang hồn cốt của dân tộc.

Hoàng thành Thăng Long

di-tich-lich-su-ha-noi

Nằm trên địa bàn của phường Điện Biên và phường Quán Thánh, Hoàng thành Thăng Long là một di tích lịch sử Hà Nội nổi tiếng. Đây là một công trình kiến trúc đồ sộ được xây dựng qua nhiều triều đại khác nhau, bắt đầu từ thời kỳ Đinh – Tiền Lê và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích ở Việt Nam.

Qua quá trình khai quật và nghiên cứu, người ta phát hiện ra rằng, hoàng thành Thăng Long đã tồn tại được 13 thế kỷ xuyên suốt các triều đại Lý, Trần Lê, Mạc, Nguyễn.

Đến nơi này, bạn sẽ được chiêm ngưỡng những di tích được lưu lại bên trong hoàng thành Thăng Long như khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu, Đoan Môn, cột cờ Hà Nội, điện Kính Thiên, nhà D76, Bắc Môn, Hậu Lân, tường thành và 8 cổng hành cung dưới thời Nguyễn. Vào năm 2010, Hoàng Thành Thăng Long được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Nơi đây, ghi lại dấu ấn của nhiều triều đại trong lịch sử, là một trong những địa điểm tham quan, checkin mà bạn không thể bỏ qua khi đến với thủ đô Hà Nội.

  • Địa chỉ: 19C Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội
  • Giờ mở cửa: 8:00 – 17:00 hàng ngày trừ thứ 2

Chùa Một Cột

Tọa lạc tại phố Chùa Một Cột, Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội, chùa Một Cột từ lâu đã trở thành biểu tượng của văn hóa Việt Nam. Ngôi chùa này được xây dựng dựa trên “giấc mộng Quan Âm” của vua Lý Thái Tổ. Chùa Một Cột là quần thể kiến trúc bao gồm ngôi chùa và tòa đài giữa hồ. Ngoài cái tên “Chùa Một Cột”, ngôi chùa còn được biết đến bởi những cái tên khác như Liên Hoa Đài, Diên Hựu Tự hay chùa Mật.

Không chỉ là một điểm đến tâm linh, chùa Một Cột là biểu tượng văn hóa ngàn năm của Hà Nội. Năm 2012, di tích lịch sử Hà Nội này đã vinh dự được Tổ chức Kỷ lục châu Á xác lập kỷ lục “Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất châu Á”.

Đến với chùa Một Cột linh thiêng, bạn không chỉ được sở thị một tác phẩm kiến trúc điêu luyện từ thời phong kiến. Mà còn có thể thắp nhang, cầu nguyện sức khỏe, bình an, may mắn cho bản thân và gia đình.

  • Địa chỉ: Phố Chùa Một Cột, Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội.
  • Giờ mở cửa: 7:00 – 18:00 .

Văn miếu Quốc Tử Giám

checkin-di-tich-lich-su

Văn miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Là nơi diễn ra những cuộc thi cử để tuyển chọn người tài giúp vua lo việc nước. Đến nơi đây, bạn sẽ được chiêm ngưỡng những tấm bia gắn trên mai rùa khắc tên những tiến sĩ tài giỏi trong thời kỳ phong kiến. Bạn sẽ được chiêm ngưỡng kiến trúc đậm chất cổ kính của những ngôi miếu nơi này.

Hằng năm, vào những mùa thi cử, các sĩ tử từ khắp nơi đổ về đây để sờ đầu rùa, thắp hương và cầu cho đường học hành hanh thông, thi cử đỗ đạt. Đặc biệt, vào Rằm Nguyên Tiêu, tại Văn Miếu thường diễn ra ngày hội Thơ Việt Nam vô cùng trang trọng trong không khí sắc xuân tràn đầy.

  • Địa chỉ: 58 Quốc Tử Giám, Văn Miếu, Đống Đa, Hà Nội 
  • Giờ mở cửa: Từ thứ 2 – 6, mở cửa từ 7:00 – 18:00. Vào thứ 7, chủ nhật, mở cửa từ 8:00 – 21:00.
Di tích

Nằm cách thành phố Đà Nẵng tầm gần 70 cây số, thuộc địa phận xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Thánh địa Mỹ Sơn hiện ra với một quần thể kiến trúc gồm nhiều đền đài Chămpa cùng kiến trúc vô cùng độc đáo. Bị quên lãng trong một thời gian dài lên đến hàng thế kỷ, phải đến năm 1885 nơi đây mới được phát hiện và vào năm 1999 nơi này đã được UNESCO lựa chọn là di sản thế giới như một minh chứng duy nhất về nền văn minh châu Á đã bị biến mất. Nếu bạn là du khách thích khám phá và tìm hiểu nền văn hóa cổ xưa thì đây là một địa điểm đáng để bạn khám phá.

Thánh địa Mỹ Sơn chính là một khu di tích đền tháp cổ còn sót lại của văn hóa Chăm pa cổ. Chính nhờ những giá trị về kiến trúc, văn hóa, mà địa danh này được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Như vậy, sau phố cổ Hội An thì Thánh địa Mỹ Sơn chính là di sản văn hóa thế giới thứ hai của tỉnh Quảng Nam. Thật tự hào biết bao! Thế mới thấy được những giá trị lớn lao mà di tích lịch sử này gìn giữ và truyền lại cho thế hệ chúng ta.

 

Thánh địa Mỹ Sơn
Thánh địa Mỹ Sơn – di sản văn hóa thế giới (Ảnh: Sưu tầm)

 

Trong chuỗi series bài viết về du lịch Quảng Nam, ngày hôm nay Lữ hành Việt Nam xin chia sẻ đến bạn những thông tin về du lịch Thánh địa Mỹ Sơn. Nào hãy cùng chúng tôi lên đường khám phá vẻ đẹp huyền bí của Thánh địa Mỹ Sơn nhé!

 

Giới thiệu về khu du lịch Thánh địa Mỹ Sơn tỉnh Quảng Nam

Thánh địa Mỹ Sơn nằm cách Hội An khoảng 40 cây số về phía Tây, và cách thành phố Đà Nẵng khoảng 70 cây số về phía Tây Nam, thuộc địa phận của xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, được bao bọc bởi một thung lũng có đường kính 2 mét và xung quanh là núi đồi hùng vĩ.

 

Thánh địa Mỹ Sơn
Khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn nằm trong thung lũng được bao bọc bởi núi rùng hùng vĩ (Ảnh: Sưu tầm)

 

Khu di tích này là tổ hợp của hơn 70 công trình kiến trúc và nằm rải rác trên các ngọn đồi trùng điệp, phản ánh văn hóa truyền thống của người Chăm Pa cổ. Xưa kia, Thánh địa Mỹ Sơn chính là nơi cúng tế và là lăng mộ chôn cất của hoàng thân quốc thích trong Vương triều Chăm Pa trong suốt giai đoạn từ thế ký thứ VII đến thế kỷ thứ XIII . Cũng có sách ghi lại rằng đây là trung tâm của Ấn Độ giáo khu vực Đông Nam Á xưa kia.

Trải qua bao nhiêu bể dâu, thời gian đã tàn phá rất nhiều công trình kiến trúc của khu di tích, hơn 70 công trình nguy nga tráng lệ ngày nào giờ chỉ còn sót lại 20 công trình, và hiện đang được Nhà nước hết sức quan tâm, tôn tạo và bảo tồn lưu giữ.

Địa thế núi non hùng vĩ đã tạo nên vẻ đẹp hoang sơ, huyền bí cho khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn, du khách khi đến đây không chỉ để chiêm ngưỡng những đền đài in dấu ấn của năm tháng, mà còn được tận hưởng một bầu không khí trong lành, hòa mình vào thiên nhiên thanh mát, lắng nghe tiếng chim hót líu lo trên những tán cây xanh để thấy lòng mình bình yên và lắng lại.

Du khách tìm đến đây không chỉ để chiêm ngưỡng khám phá cảnh quan, mà còn được nghe kể về những chiến tích hào hùng của lịch sử.

 

Thánh địa Mỹ Sơn
Du khách đến với Mỹ Sơn để chiêm ngưỡng nhữnng cảnh quan đặc sắc (Ảnh: Sưu tầm)

 

Khám phá Thánh địa Mỹ Sơn có gì đặc sắc?

Tuy là di tích văn hóa được Nhà nước bảo tồn lưu giữ, nhưng Thánh địa Mỹ Sơn vẫn mở cửa để chào đón khách du lịch tới đây tham quan, chiêm ngưỡng và tìm hiểu về văn hóa đặc sắc của người Chăm pa cổ.

Để có thể khám phá hết được toàn bộ khu tích này, bạn cần tìm hiểu tổng thể và nắm rõ bản đồ của khu thánh địa. Tổng thể Thánh địa Mỹ Sơn bao gồm hai ngọn đồi, nằm quay mặt vào nhau theo hai hướng đông, tây, ở giữa là một con suối nhỏ, các nhánh suối rẽ ra theo các hướng và vô tình trở thành ranh giới tự nhiên chia nơi đây thành các cụm đền tháp nhỏ được đặt tên theo chữ cái Latinh A, B, C, D…

Mỗi cụm di tích đều có tường gạch bao quanh, trung tâm là một tháp chính, và xung quanh sẽ có các tháp phụ hoặc các công trình phụ với kích thước nhỏ hơn, thấp hơn. Tại mỗi tháp chính sẽ có hai cửa thông ra hai hướng đông, tây, mỗi cửa có bậc thang dẫn lên một vòm cuốn được điêu khắc hoa văn tinh xảo.

 

Thánh địa Mỹ Sơn
Kiến trúc đền tháp đặc sắc của người Chăm pa cổ (Ảnh: Sưu tầm)

 

Mỗi tháp có một chức năng riêng biệt, và thờ những vị thần theo tín ngưỡng của người Chăm Pa. Trong đó ngôi đền chính tượng trưng cho núi Meru, và các đền phụ sẽ thờ các vị thần trông giữ đất trời.

Trung tâm của khu Thánh địa Mỹ Sơn là một tháp chính có tên gọi là Kalan, đây là ngôi tháp cao nhất với chiều cao lên tới 24 mét, đáy tháp hình vuông với mỗi cạnh dài 10 mét. Bên trong tháp thờ một bộ Linga – Yoni khổng lồ, nhưng hiệu nay chỉ còn lại bệ đá Yoni mà thôi.

Để xây nên di tích Thánh địa Mỹ Sơn, người Chăm pa cổ chủ yếu sử dụng gạch nung. Các viên gạch được đẽo gọt và khéo léo xếp chồng lên nhau mà không hề sử dụng một chất kết dính nào, điều kỳ diệu là có thể tồn tại qua nhiều thế kỷ mà không hề bị phong hóa, chỉ có những phần nào bị nứt vỡ mới thấy dấu hiệu của rêu mốc.

 

Thánh địa Mỹ Sơn
Thánh địa Mỹ Sơn trường tồn cùng tháng năm, chứng nhân cho lịch sử huy hoàng của người Chăm (Ảnh: Sưu tầm)

 

Trong khu di tích còn bảo tồn một kho tàng văn hóa chăm pa cổ đặc sắc, đó chính là hệ thống tượng đá điêu khắc các vị thần linh cũng như được chạm khắc những họa tiết trong tín ngưỡng của người Chăm pa.

Kỹ thuật xây dựng, điêu khắc và chạm trổ của người Chăm Pa quả thật là đã đạt đến mức đỉnh cao, được trang trí tỉ mỉ, sống động như thật, thể hiện niềm tôn kính đối với thần linh, cũng như tin rằng con người sống trong thiên nhiên và vũ trụ luôn có sự giao hòa khăng khít.

 

Thánh địa Mỹ Sơn
Nghệ thuật điêu khắc vô cùng tinh xảo, sống động như thật (Ảnh: Sưu tầm)

 

Những giá trị văn hóa đặc sắc của Thánh địa Mỹ Sơn

Tại Thánh địa Mỹ Sơn không chỉ có kiến trúc đền tháp độc đáo mà các giá trị về văn hóa tinh thần cũng vô cùng quý giá và đắc sắc như lễ hội, nghệ thuật, mà nếu có dịp du lịch Quảng Nam ghé qua Mỹ Sơn, du khách nhất định không được bỏ lỡ.

Sẽ thật tuyệt vời khi ghé thăm Thánh địa Mỹ Sơn vào dịp lễ hội Kate diễn ra vào tháng 7 hằng năm theo lịch của người Chăm. Đây là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất của người Chăm, được tổ chức để tưởng nhớ các vị thần linh và ông bà tổ tiên đã phù hộ độ trì và mang đến sự bình an may mắn, mưa thuận gió hòa.

Mở đầu lễ hội là nghi thức cúng cầu an diễn ra ngay tại khu di tích, tiếp đó là các nghi thức rước kiệu, rước nước, trình diễn các điệu múa Chăm cổ, các bài dân ca truyền thống, các nhạc cụ của người Chăm như trống paranưng, kèn saranai, lục lạc, tù và, đàn nhị.

 

Thánh địa Mỹ Sơn
Biểu diễn nghệ thuật tại Thánh địa Mỹ Sơn (Ảnh: Sưu tầm)

 

Bên cạnh Lễ hội truyền thống thì điệu múa Chăm pa chính là nét văn hóa tinh thần quý giá của Thánh địa Mỹ Sơn, và hút hồn biết bao nhiêu du khách khi tới đây.

Các điệu múa ngày nay được sử dụng trong biểu diễn nghệ thuật phục vụ khách du lịch, nhưng xưa kia đây là những điệu múa được trình diễn trong các lễ hội truyền thống như một nghi thức dâng lễ, hay bái vọng thần linh.

Những nàng vũ nữ Chăm pa xiêm y lộng lẫy, đeo trang sức lấp lánh, đôi tay búp măng cong cong, vòng eo mềm mại, bộ ngực căng tròn… mang đến một vẻ đẹp quyến rũ, khỏe khoắn. Thân hình uyển chuyển, thướt tha trong những điệu múa truyền thống như múa quạt, múa Apsara, mua đội nước, cắn lửa… làm đắm say biết bao nhiêu du khách có cơ hội được thưởng thức.

 

Thánh địa Mỹ Sơn
Vũ nữ Chăm pa đẹp lộng lẫy trong những điệu múa uyển chuyển (Ảnh: Sưu tầm)

 

Bạn cũng có thể dễ dàng nhận ra hình ảnh của các vũ nữ Chăm pa xuất hiện rất nhiều trên các tháp cổ, được điêu khắc vô cùng sống động, tinh tế.

Đôi điều bạn cần biết khi đi du lịch Thánh địa Mỹ Sơn

Hiện nay Thánh địa Mỹ Sơn mở cửa để đón du khách vào tham quan, tìm hiểu và khám phá, với giá vé như sau:

Giá vé dành cho khách Việt Nam: 100,000 đồng

Giá vé dành cho khách nước ngoài: 150,000 đồng

(Giá vé này đã bao gồm phí tham quan và các dịch vụ như phí đi xe điện đến di tích, phí xem biểu diễn nghệ thuật)

Tham quan khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn là một phần không thể thiếu trong chuyến du lịch Quảng Nam – Hội An – Đà Nẵng, nếu là một người ưa thích xê dịch và khám phá những điều mới mẻ, bạn có thể tự thuê xe máy để tự di chuyển đến đây, đường đi rất dễ dàng, và giá thuê xe máy cũng khá rẻ. Tuy nhiên hãy nhớ trang bị xăng đầy đủ và theo dõi thời tiết để chuyến đi có những trải nghiệm tuyệt vời nhất.

Di tích

Hà Nội là mảnh đất nghìn năm văn hiến với nền văn hóa lâu đời. Những di tích nổi tiếng nơi đây cũng chính là minh chứng cho giá trị lịch sử lâu đời cũng như sự phát triển của nơi đây. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về những di tích nổi tiếng của thu đô Hà Nội thông qua bài viết dưới đây.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Di tích đầu tiên khi nhắc về Hà Nội đó chính là Lăng chủ tịch, đây chính là nơi an nghỉ của vị lãnh tụ vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam. Hẳn ai mà không mong muốn được một lần được đến thăm Bác với tất cả lòng thành kính và tôn trọng nhất.

Nơi bác đang yên nghỉ chính là quảng trường Ba Đình năm xưa, là nơi Bác từng đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945. 

Quá trình xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh | Phim tài liệu lịch ...

Ngày cũng như đêm, các chiến sĩ vẫn liên tục canh gác cho giấc ngủ của Bác.

Khi đến thăm lăng Bác, du khách phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về trang phục cũng như lời nói. Đặc biệt, người viếng thăm sẽ được yêu cầu không sử dụng các thiết bị có khả năng ghi hình trong quá trình viếng thăm lăng Bác.

Văn miếu Quốc tử Giám

Nơi đây chính là trường đại học đầu tiên của nước ta. Dưới thời vua Lý Thánh Tông, người đã cho xây dựng văn miếu để tuyển chọn những bậc hiền tài, xây dựng và phát triển đất nước. Ngày nay, văn miếu Quốc Tử Giám đã trở thành một di tích, một địa chỉ du lịch nổi tiếng cho các du khách khi đến thăm Hà Nội. 

Đặc biệt là các sĩ tử trước khi tham dự kỳ thi Đại học hay kỳ thi tuyển Quốc gia đều dành thời gian để ghé thăm nơi đây.

Không gian của văn miếu tương đối rộng lớn, hai bên văn miếu được bố trí  các tấm bia đá khắc tên các vị tiến sĩ, học giả tài giỏi năm xưa. Những tấm bia đá này đã được vua truyền chỉ yêu cầu khắc tên để người đời sau có thể tưởng nhớ và biết đến công trạng của các vị học giả này.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám – Hoàng Thành Thăng Long

Mỗi năm vào ngày rằm nguyên tiêu, tại nơi đây thường diễn ra ngày hội thơ Việt Nam. Nếu có dịp, du khách hãy đến thăm văn miếu vào ngày rằm nguyên tiêu để có thể thưởng thức không gian văn hóa đặc trưng của dân tộc, đồng thời được thưởng thức các bài thơ từ Hội thơ lớn nhất cả nước.

Phố cổ Hà Nội

Quả thật là thiếu sót khi không ghé thăm phố cổ. Nơi đấy đúng như tên gọi của nó, những con phố mang màu sắc cổ kính, đậm nét đặc trưng của một Hà Nội xưa cũ. Màu chủ đạo của các căn nhà nơi đây là màu vàng với cửa sổ được sơn màu xanh. Khi đi ngang qua những con phố  này, bạn sẽ bất giác hoài niệm về những điều xưa cũ xen lẫn một chút tiếc nuối cho một thời đã qua.

Nếu bạn có dịp đến thăm Hà Nội thì đừng bỏ lỡ cơ hội ghé qua những di tích này. Các bạn sinh viên hãy tranh thủ thời gian khám phá lịch sử Hà Nội thông qua các di tích nổi tiếng. Vì rất có thể một ngày các bạn sẽ phải rời xa nơi đây, sẽ có lúc tiếc nuối bởi lẽ đã bỏ quên cơ hội những ngày còn ở lại Hà Nội.

Di tích

Việt nam nổi tiếng với nhiều di tích mang giá trị lịch sử và khảo cổ to lớn. Trong đó, quần thể di tích lịch sử và khảo cổ Hoàng thành Thăng Long là một trong những địa danh đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của Thế giới. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn đọc một số thông tin cơ bản khi muốn tới thăm Hoàng thành Thăng Long

Đôi nét về Hoàng Thành Thăng Long

Hoàng thành  Thăng Long là một quần thể di tích nằm trên phường Điện Biên và phường Quán Thánh thuộc thành phố Hà Nội. Quần thể này có tổng diện tích lên tới 18.395ha. Trong đó bao gồm các khu khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu và một số những di tích còn sót lại của Thành cổ năm xưa. Những di tích này gồm có cột cờ Hà Nội, Bắc môn, Hậu Lậu, điện Kính Thiên, Đoạn Môn, nhà D67, tường thánh và 8 cổng hành cung.

Hoàng Thành Thăng Long được xây dựng từ thời kỳ tiền Thăng Long vào thế kỷ VII. Thành cổ Hà Nội đã đi qua các triều đại từ Đinh, Tiền Lê cho đến Lý, Trần, Hậu Lê và triều đại nhà Nguyễn. Công trình kiến trúc đồ sộ này đã được xây dựng và hoàn thành trong thời gian dài, qua nhiều giai đoạn lịch sử. 

Hoàng thành Thăng Long

Cho đến hôm nay nó đã trở thành di tích quan trọng bậc nhất của đất nước và là điểm đến thú vị cho bạn bè năm châu.

Để có thể vào tham quan quần thể di tích này, du khách hãy đến số 19C trên đường Hoàng Diệu. Đây là cổng chính đón du khách vào thăm công trình kiến trúc mang nhiều dấu ấn lịch sử này. Du khách có thể đến Hoàng Thành bằng nhiều phương tiện khác nhau. Bạn cũng có thể thử trải nghiệm xe bus Hà Nội.

Du khách và người dân nơi đây thường nói rằng, nếu như muốn biết về các điểm đến của thành phố này thì hãy lên một chuyến xe biết, bạn sẽ được thông báo ở mỗi điểm dừng xe bus. Khi đến với Hoàng thành Thăng Long, khách du lịch có thể đi chuyến xe bus số 22, chuyến xe này có điểm dừng ngay tại cổng chính của khu du lịch. 

Giờ mở cửa đón khách và giá vé khi vào thăm quan Hoàng thành Thăng Long

Để thuận tiện cho việc tham quan du lịch, du khách có thể tham khảo một số thông tin dưới đây.

Hoàng thành Thăng Long mở cửa đón khách ghé thăm vào tất cả các ngày trong tuần trừ thứ 2 để có thể thực hiện các công việc bảo quản, dọn dẹp và vệ sinh quần thể du lịch sau một tuần đón khách.

Hoàng thành mở cửa bán vé từ 8h đến 11h30 vào buổi sáng và từ 14h đến 17h330 vào buổi chiều với giá vé là 30.000 đồng một lượt.

Khu di tích lịch sử bậc nhất quốc gia

Đối với học sinh, sinh viên từ 15 tuổi trở lên có xuất trình thẻ học sinh, sinh viên và các cụ già, người cao tuổi trên 60 tuổi sẽ được giảm 50% giá vé khi vào cửa. Đặc biệt, những người có công với cách mạng và trẻ em dưới 15 tuổi sẽ được miễn phí hoàn toàn khi đến thăm Hoàng thành Thăng Long.

Trên đây là một số thông tin cơ bản cung cấp đến bạn đọc khi muốn ghé thăm khu di tích lịch sử này. Hy vọng, qua bài viết các bạn có thể tìm thấy cho mình những thông tin hữu ích khi muốn ghé thăm thành cổ Hà Nội.

 

Di tích

Chiêm ngưỡng 3 ngôi làng đẹp như cổ tích tại Việt Nam

Việt Nam không chỉ là một đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh, những khu du lịch phát triển được bạn bè quốc tế biết đến và lựa chọn để tham quan. Bên cạnh đó, nước ta còn đẹp hơn bởi vẫn còn giữ được những ngôi làng đẹp như cổ tích. Hãy cùng chúng tôi khám phá 3 ngôi làng thơ mộng, hiền hòa đáng để chiêm ngưỡng dưới đây.

1. Làng cổ Đường Lâm – Hà Nội

Làng cổ Đường Lâm tại Hà Nội là một trong những điểm đến không còn xa lạ với những người dân Hà Nội. Chỉ cách trung tâm thành phố Hà Nội 50 km nên việc di chuyển đến ngôi làng này vô cùng dễ dàng đối với du khách. Đến với làng cổ Đường Lâm, chúng ta như sống lại một thời tuổi thơ với cây đa, giếng nước, mái đình cùng những cánh đồng lúa trải dài tạo nên một bức tranh thanh bình của một miền quê xa xưa.

Các ngôi nhà tại Đường Lâm được xây bằng gạch, ngói,…đường đi cũng được lát bằng gạch hoặc đá tổ ong có hàng trăm tuổi. Cách xây dựng theo lối kiến trúc cổ xưa với hình ảnh các ngõ cụt, lối đi có một lối đi chính và các nhánh rẽ khác. Du khách đến Đường Lâm có thể tận hưởng một không gian yên bình, khác xa cuộc sống xô bồ của chốn phồn hoa đô hội.

2. Làng Cù Lần – Đà Lạt

Đà Lạt không chỉ biết đến bởi phong cảnh non nước hữu tình với vẻ đẹp nhẹ nhàng, tinh khiết và thơ mộng mà còn thu hút khách du lịch bởi một ngôi làng tuyệt đẹp như tranh mang tên làng Cù Lần. Ngôi làng được bao bọc bởi cây cỏ, hoa lá đầy sắc màu vô cùng nên thơ và huyền ảo Những rặng hoa tỏa sắc khoe hương hai bên lối đi vào làng, những loài hoa e ấp quanh các ngôi nhà khiến cho nhiều du khách reo lên thích thú khi chứng kiển cảnh đẹp này.

Nổi bật trên sắc xanh của cây cỏ, sắc hương của hoa lá là những ngôi làng nhỏ xinh của đồng bào dân tộc. Chận mắt chứng kiến cảnh sắc này khiến chúng ta cảm thấy như lạc vào một thiên đường trong cổ tích vậy.

3. Làng chài Mũi Né – Phan Thiết

Một trong những làng chài đẹp, huyền thoại như tranh phải kể đến làng chài Mũi Né với những ngôi nhà mộc mạc, đơn sơ san sát nhau luôn đầy ắp tiếng cười. Ngay từ khi bước đến đầu làng, chúng ta đã bắt gặp một cảnh tượng tuyệt sắc với những chiếc thuyền đậu neo hay nối đuôi nhau ra biển đủ màu sắc.

Tận mắt chứng kiến cuộc sống nhộn nhịp của người dân chài: hoạt động đánh bắt, buôn bán tạo chợ cùng những bãi cát trải dài, trắng mịn sẽ mang đến những trải nghiệm tuyệt vời cho du khách.

Những hình ảnh thân quen, đơn sơ giản dị là nét đẹp văn hóa của những vùng quê Việt Nam. Đây thực sự là những bức tranh cổ tích muôn màu khiến du khách có những trải nghiệm, cảm nhận thú vị không thể nào quên.

Di tích

Từ khi dựng nước và giữ nước cho tới hôm nay, Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm và biến cố. Tất cả được thể hiện một cách rõ nét qua những di tích lịch sử còn được lưu giữ và bảo tồn đến ngày nay. Hãy cùng chúng tôi điểm danh những di tích lịch sử Việt Nam  từ Nam ra Bắc ngay sau đây.

MỤC LỤC

1. Chiến khu Tân Trào

Di tích lịch sử đầu tiên mà chúng tôi muốn giới thiệu với các bạn đó chính là chiến khu Tân Trào. đây là một trong số các di tích nổi bật nhất của cách mạng Việt Nam, chứng nhân lịch sử cho cuộc kháng chiến thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Hiện nay, chiến khu Tân Trào đã trở thành một trong số 23 di tích quốc gia đặc biệt.

Chiến khu Tân Trào

Vào những năm Cách mạng tháng Tám, Tân Trào chính là thủ đô làm thời của khu giải phóng. Đồng thời, đây cũng là nơi tiến hành Hội nghị toàn quốc vào ngày 13/08/145 để quyết định kế hoạch tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào ngày 16/08/1945, Đại hội đã quyết định thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, đồng thời bầu ra một chính phủ lâm thời mà người làm chủ tịch không ai khác chính là Bác Hồ Chí Minh và thực hiện làm lễ ra quân cho quân giải phóng Việt Nam.

Trước năm 1945, Tân Trào được gọi là Kim Long và Kim Châu. Sau năm 1945, hai xã Tâm Lập và Hồng Thái được hợp nhất và gọi là Tân Trào.

2. Chùa Phổ Minh

Chùa Phổ Minh cũng là một trong số các di tích lịch sử Việt Nam vô cùng nổi tiếng. Ngoài tên Phổ Minh thì chùa còn được gọi là chùa Tháp. Hiện chùa đang tọa lạc tại thôn Tức Mạc của tỉnh Nam Định, các thành phố khoảng 5km về hướng Bắc. Vào năm 2012, chùa đã được xếp hạng vào di tích quốc gia đặc biệt nên cạnh di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Trần.

Chùa Phổ Minh

3. Chùa Thầy

Đây là một ngôi chùa nằm ngay dưới chân núi Sài Sơn, huyện quốc Oai, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Chùa cách trung tâm thành phố khoảng 20km về phía Tây Nam. Các bạn có thể ghé thăm chùa bằng cách đi theo con đường cao tốc Láng – Hòa Lạc.Chùa Thầy

Sở dĩ chùa được gọi là chùa Thầy chùa nằm ở chân núi Sài Sơn hay còn gọi là núi Thầy. Chùa đã được xây dựng từ thời nhà Đinh và là nơi tu hành của rất nhiều các bậc sư thầy nổi tiếng, đắc đạo, trong đó có Thiền sư Từ Đạo Hạnh.

4. Cố đô Hoa Lư

Khi nhắc đến các di tích lịch sử ở Việt Nam chắc chắn không thể nào mà bỏ qua được cố đô Hoa Lư – quần thể di tích quốc gia có vị trí vô cùng quan trọng của Việt Nam. Cố đô cũng là một trong 4 vùng lỗi của quần thể Tràng An – quần thể di sản thế giới do UNESCO công nhận.Cố đô Hoa Lư

Cố đô Hoa Lư gắn liền với sự nghiệp của các nhân vật lịch sử, nổi tiếng thuộc 3 triều đại khác nhau là Đinh – Tiền Lê – khởi đầu nhà Lý, tính từ vua Đinh Tiên Hoàng đến vua Lý Thái Tông. có thể nói, cố đô Hoa Lư chính là nơi ghi lại nhiều dấu ấn lịch sử nhất của các triều đại Việt Nam. Đây là kinh đô đầu tiên của chính quyền nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền của nước ta. Hoa Lư chứng kiến cảnh thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và thậm chí là cả phát tích quá trình định đô Hà thành.

Vào năm 1010, vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư – Ninh Bình về Thăng Long – Hà Nội. Cũng từ đó, Hoa Lư trở thành cố đô của nước ta. Mặc dù vào các triều vua sau đó không còn đóng đô tại Hoa Lư nhưng vẫn thường xuyên cho người tu sửa và xây dựng nhiều công trình kiến trúc khác như đền, lăng, đình, chùa, phủ,… Ngày nay, theo tính toán thì Hoa Lư – di tích lịch sử ở Việt Nam này có tổng diện tích quy hoạch là 13,87km2 và có bề dày lịch sử trên 1000 năm.

5. Dinh Độc Lập

Dinh Độc Lập, dinh Norodom, hội trường Thống Nhất hay dinh Thống Nhất đều là cách gọi chung chỉ một di tích lịch sử. Đây là một tòa công trình kiến trúc được xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời dinh Độc Lập cũng là nơi mà Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã từng sống và làm việc. Ngày nay, công trình này đã được chính phủ Việt Nam xếp vào danh sách các di tích quốc gia đặc biệt.

Dinh Độc Lập

6. Đền Hùng

Đền Hùng là một khu di tích lịch sử Việt Nam, một quần thể đền chùa thờ phụng các vị Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Đền được xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ. Hàng năm, tại đền đều tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương hay còn gọi là Lễ hội Đền Hùng vào ngày 10 tháng 03 âm lịch. Vào ngày này, không chỉ có người dân bản địa mà du khách thập phương đều đổ về Đền Hùng để tham gia lễ hội.Đền Hùng

Theo như các tài liệu khoa học, lịch sử ghi chép lại thì nền móng của kiến trúc quần thể này được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng. Cho đến thế kỷ XV, tức là thời Hậu Lê thì Đền được xây dựng hoàn chỉnh như quy mô hiện tại.

7. Đền Ngọc Sơn

Một trong số các di tích lịch sử nổi tiếng nằm tại Hà Nội phải kể đến ngôi đền thờ nằm trên đảo Ngọc của Hồ Hoàn Kiếm – Đền Ngọc Sơn. Đền cũng là một trong số những di tích được xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt.

Đền Ngọc Sơn

8. Đền Phù Đổng

Nhiều người vẫn quen gọi đền Phù Đổng là đền Gióng. Đền được xây dựng tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. đây là nơi thờ vị Thánh Gióng – Phù Đổng Thiên Vương. Theo tương truyền, nơi xây dựng đền Thượng (đền Phù Đổng) trước đây chính là nền nhà cũ của Thánh Gióng, bên đê sông Đuống.Đền Phù Đổng

Còn đền hạ thờ mẹ Thánh Gióng thì nằm ở ngoài đê, nơi mẹ Thánh phát hiện ra dấu chân khổng lồ và ướm chân vào sau đó sinh ra Thánh. Vào năm 1010, sau khi vua Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long đã cho xây dựng đền. Tính đến nay, di tích lịch sử Việt Nam này Phù Đổng đã trải qua nhiều lần trùng tu lại.

9. Đền Trần (Nam Định)

Đền Trần là một quần thể đền thờ được xây dựng tại đường Trần Thừa, phường Lộc Vượng, Nam Định. Đền là nơi thờ tự các vị vua và quan lại có công thời nhà Trần. Vào năm 1695 đền được xây dựng trên nền Thái miếu cũ của nhà Trần nhưng sau đó vào thế kỷ XV đã bị quân Minh phá bỏ.Đền Trần (Nam Định)

Đền được chia làm 3 công trình kiến trúc chính là đền Thượng – đền Thiên Trường, đền Hạ – đền Cố Trạch và đền Trùng Hoa. Để có thể vào được đền các bạn phải đi qua hệ thống cổng ngũ môn. Qua cổng là một hồ nước lớn hình chữ nhật. Còn chính giữa sau hồ chính là khu đền Thượng. Đền Trùng Hoa nằm ở phía Tây đền Thượng còn đền Cố Trạch thì nằm ở phía Đông.

10. Đền Trần (Thái Bình)

Một trong các di tích lịch sử nổi tiếng ở Việt Nam tiếp theo mà chúng tôi muốn giới thiệu đó là đền Trần nhưng ở tỉnh Thái Bình. đây là một quần thể di tích gồm các đền thờ và lăng mộ. Đền được xây dựng để thờ cúng các vị vua quan nhà Trần. Đền được xây dựng trên nền đất phát tích Thái Bình. Quần thể này hiện đã được Nhà nước xếp hạng là một trong những công trình di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.

Đền Trần (Thái Bình)

11. Hồ Hoàn Kiếm

Hồ Hoàn Kiếm không chỉ là một di tích lịch sử quan trọng mà còn là một trong những biểu tượng của Hà Nội. Ngoài cái tên Hoàn Kiếm thì nhiều người vẫn quen gọi hồ là Hồ Gươm. Đây là một hồ nước ngọt tự nhiên của Hà Nội đã có từ rất lâu. Hồ khá rộng với diện tích khoảng 12ha.Hồ Hoàn Kiếm

Theo ghi chép thì ngày xưa người ta còn gọi hồ với cái tên là hồ Lục Thủy bởi nước hồ quanh năm xanh ngắt một màu, hồ Thủy Quân bỏi hồ được sử dụng làm nơi duyệt thủy binh và hồ Tả Vọng, Hữu Vọng dưới thời Lê mạt. Còn tên Hồ Hoàn Kiếm là bởi sự tích vua Lê Lợi trả lại gươm báu cho Rùa Thần vào thế kỷ XV. Hiện nay, tên hồ còn được lấy để đặt cho một quận trung tâm của thành phố Hà Nội. Bên cạnh đó, hồ Hoàn Kiếm cũng là hồ nước duy nhất của quận tính tới thời điểm này.

12. Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ

Một trong số những di tích lịch sử Việt Nam không thể bỏ qua đó chính là khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ. Đây là một quần thể di tích vô cùng nổi tiếng và đáng tự hào của quân dân ta. Nơi đây đã ghi lại những chiến công anh dũng của quân và dân Việt Nam trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng đất nước khỏi ách xâm lăng. Trong quần thể khu di tích này có các địa điểm nổi bật nhất là đồi A1, C1, C2, D1 cùng các cứ điểm Hồng Cúm, Him Lam, đồi Độc Lập,… Hiện nay, quần thể này cũng đã được chính phủ đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt.

Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ

13. Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Chắc hẳn rằng đã là người Việt Nam thì không thể nào không biết đến di tích lịch sử nổi tiếng này. Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch còn được gọi tắt với cái tên là Khu di tích Phủ Chủ tịch. Hiện nay, khu di tích này đang nằm tại Hà Nội. Đây chính là nơi mà Bác đã sống và làm việc lâu nhất, kéo dài từ ngày 19/12/1954 – ngày 02/09/1969. Vào ngày 15/05/1975, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra Quyết định xếp Khu di tích Phủ Chủ tịch vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt.

Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Trước đây, khu đất được xây dựng khu di tích này là phần đất nằm ở phía Tây Bắc của Hoàng thành Thăng Long. Sau khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam chúng đã chọn Hà Nội làm nơi đặt trung tâm đầu não cho toàn Đông Dương. Đồng thời, chúng cũng xây dựng Phủ toàn quyền Đông Dương tại đây. Tới khi cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi thì nơi này trở thành nơi làm việc của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước cũng như là nơi sống, làm việc của Bác. Đặc biệt, đây cũng là nơi Bác đã trút hơi thở cuối cùng.

14. Khu di tích Pác Bó

Khu di tích lịch sử ở Việt Nam tiếp theo trong danh sách này chính là khu di tích Pác Bó. Đây là một khu di tích cách mạng rất nổi tiếng của nước ta nằm tại xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Nơi đây cách trung tâm thành phố khoảng 55km về phía Bắc.

Khu di tích Pác Bó bao gồm nhiều công trình như hang Cốc Pó, hang Lũng Lạn, hang Ngườm Vài, suối Lê Nin, nền nhà ông Lý Quốc Súng, bàn đá nơi Bác làm việc, nhà tưởng niệm Bác,…

Khu di tích Pác Bó

Vào ngày 08/02/1941, sau khi về nước, Bác đã sinh sống và làm việc tại hang Cốc Pó rồi đặt tên cho dòng suối ở trước cửa hang là suối Lê Nin, ngọn núi mà ngọn núi chứa hang là núi Các Mác theo tên của các vĩ nhân nổi tiếng.

Trước năm 1979, hang Cốc Pó chỉ rộng 15m2. Tuy nhiên, vào năm 1979, khi cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung diễn ra thì quân Trung Quốc đã dùng mìn nổ bom Cốc Pó. Tới ngày nay, mới chỉ có một phần hang Cốc Pó được khôi phục để phục vụ cho nhu cầu tham quan của du khách.

15. Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý

Một trong các di tích lịch sử nổi tiếng ở Việt Nam đó chính là khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý. Đây là quần thể kiến trúc tín ngưỡng được xây dựng dưới thời nhà Lý, được gọi là đền thờ Lý Bát Đế, Đền Đô hay Cổ Pháp điện. Đền được xây dựng để thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý. Vào ngày 25/01/1991, Bộ Văn hóa – Thông tin đã quyết định công nhận đền Lý bát Đế là di tích lịch sử – văn hóa Việt Nam. tới năm 2014 thì được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.

Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý

16. Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Khu lưu niệm này hiện đang nằm tại cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên, An Giang. Vào ngày 10/05/2012 Nhà nước đã ký quyết định công nhận đây là một trong số 23 di tích quốc gia đặc biệt.

17. Quần thể di tích Cố đô Huế

Di tích lịch sử Việt Nam nổi tiếng nhất với người dân Việt cũng như du khách nước ngoài có lẽ chính là quần thể di tích Cố đô Huế. Quần thể này được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX dưới triều nhà Nguyễn. Công trình nằm trên địa phận kinh đô Huế xưa và nay là thành phố Huế cùng một vài vùng phụ cận. Vào ngày 11/12/1993, quần thể đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới và được Nhà nước đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.

Quần thể di tích Cố đô Huế

18. Quần thể di tích danh thắng Yên Tử

Đây là một quần thể di tích và danh thắng gắn liền với sự ra đời, hình thành và phát triển của phái Trúc Lâm tại Việt Nam. Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang tiến hành phối hợp cùng với các bạn ngành có liên quan để lập hồ sơ đệ trình công nhận đây là Di sản thế giới.

19. Thành Cổ Loa

Thành Cổ Loa cũng là một trong số các di tích lịch sử ở Việt Nam rất nổi tiếng được xây dựng đã hàng nghìn năm. Nơi đây từng là kinh đô của nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương và Ngô Quyền. Hiện nay, di tích này thuộc địa bàn xã Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội.

Thành Cổ Loa

Thành Cổ Loa

20. Thành cổ Quảng Trị

Thành cổ Quảng Trị cũng là một trong số các di tích Việt Nam cần được bảo tồn và xếp trong danh sách Di tích quốc gia đặc biệt. Hiện thành cổ đang tọa lạc tại trung tâm thị xã Quảng Trị của tỉnh Quảng Trị.

21. Thành nhà Hồ

Thành này có rất nhiều tên gọi như thành nhà Hồ, thành An Tôn, thành Tây Đô, thành Tây Kinh và thành Tây Giai. Trước đây, thành chính là kinh đô của nước Đại Ngu dưới thời nhà Hồ, thuộc tỉnh Thanh Hóa. Thành có kết cấu rất chắc chắn và độc đáo, đồng thời cũng là tòa thành đá có quy mô lớn hiếm có tại Việt Nam. Thời gian tiến hành xây dựng thành khá ngắn, chỉ khoảng 3 tháng. Tuy nhiên, tòa thành đã tồn tại được tới hơn 6 thế kỷ và vẫn còn nhiều đoạn tương đối nguyên vẹn.thanh-nha-ho

22. Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Di tích lịch sử Việt Nam cuối cùng trong danh sách này chúng tôi muốn chia sẻ đó chính là Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Đây là một quần thể di tích vô cùng nổi tiếng tại Hà Nội. Hiện nay, quần thể này cũng đã được xếp vào danh sách 23 di tích quốc gia đặc biệt.

Quần thể bao gồm nhiều công trình, kiến trúc như hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám, vườn Giám,…

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Không gian và kiến trúc tại Văn Miếu được thiết kế vô cùng đẹp, độc đáo và nghiêm trang với tường gạch vồ bao quanh, bên trong gồm 5 lớp không gian, mỗi lớp lại có kiến trúc khác nhau. Văn Miếu – Quốc Tử Giám gồm có các cổng là cổng Văn Miếu, Đại Trung, Đại Thành và Thái Học. Tính tới nay, Văn Miếu đã có hơn 700 năm tuổi, đào tạo cho đất nước hàng nghìn nhân tài.

Ngày nay, Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã trở thành nơi dành cho các du khách tham quan, nơi khen tặng những học sinh xuất sắc và là nơi để tổ chức hội thơ vào mỗi dịp ngày rằm tháng giêng.

Trên đây là các công trình được công nhận là di tích lịch sử Việt Nam vô cùng nổi tiếng với người dân trong nước lẫn nước ngoài. Đây không chỉ là những chứng nhân lịch sử mà còn là biểu tượng cho lịch sử, văn hóa, truyền thống tâm linh người Việt.

Di tích

Huyền tích bí ẩn về trầm hương – “sản vật của trời”
“Ăn thiên trả địa”, “ăn của rừng rưng rưng nước mắt” là những ám ảnh kinh hoàng mà bao người trót nghiệp với nghề đi trầm hương luôn khắc dạ ghi tâm.
Xưa nay, trầm hương luôn được xem là thứ sản vật tinh túy của trời. Trầm hương vốn là một loại gỗ rất quý hiếm, người xưa đã có câu “ngậm ngải tìm trầm” để nói lên sự gian khổ khi đi tìm loại gỗ trầm này. Tuy nhiên, không hẳn ai cũng biết huyền tích về thứ sản vật đặc biệt này của tạo hóa.
Huyền tích kỳ lạ
Truyền thuyết kể rằng, nghề đi trầm có gốc gác từ vùng đất thánh Pô Nar Gar dưới chân núi Đại An (Diên Khánh, Khánh Hòa). Nữ thần Thiên Y A Na là tổ sư của nghề với giai thoại về sự xuất thân, hiển linh hết sức linh thiêng và huyền bí.
Cổ sử có chép, vùng đất Khánh Hòa từng là mảnh đất xứ trầm hương của vương quốc Chăm Pa một thời hùng mãnh. Đây là vùng đất phát tích nhiều câu chuyện thần bí về sự tích hiển thân các vị thần. Một trong số đó có nữ thần Thiên Y A Na phù hộ độ trì cho những phu trầm trên con đường hành lộ ngậm ngải tìm trầm hương. Nữ thần có tên là Thiên Y A Na theo tiếng Chăm là Pô Nar Gar, được sinh ra từ bột biển và ánh sáng ở ngoài biển khơi muôn trùng.

Huyen tich bi an ve tram huong -
Chân dung Bà chúa trầm hương Thiên Y A Na
Thuở xưa ở núi Đại An có cặp vợ chồng già nhưng hiếm muộn con ngày ngày trồng dưa ở triền núi. Nhưng mỗi khi dưa chín được trái nào thì lại mất trái đó. Sau một thời gian dài, hai vợ chồng ông bắt hoài nghi và tìm cách bắt tên ăn trộm. Đúng như suy đoán của hai vợ chồng ông lão, tối hôm đó lúc đang canh dưa thì phát hiện một cô bé xinh đẹp đến hái trộm dưa trong vườn. Lúc này ông lão mới chạy đến bắt quả tang. Nhưng vì thấy cô bé còn nhỏ, xinh xắn nhưng lại không có cha mẹ, nên hai vợ chồng già đem về nhà nuôi và xem như con đẻ của mình.
Một hôm bỗng trời mưa to gió lớn, cảnh vật tiêu điều buồn bã, cô gái lấy đá chất thành 3 hòn non bộ giả, rồi lấy hoa lá cắm lên trên đó cho vui. Thấy cô bé chơi trò không hợp với lứa tuổi nên ông lão rầy la. Trong lúc buồn, chợt thấy khúc kỳ nam theo dòng nước trôi đến, cô gái liền hóa thân vào khúc kỳ nam kia để cho sóng dạt ra khơi vào cập vào đất Trung Hoa. Hương thơm từ khúc kỳ nam tỏa ra ngào ngạt khiến cho nhiều người hiếu kì tìm đến xem. Lúc này, người dân địa phương tụm lại để mang khúc kỳ nam quý về nhà, nhưng dù có tập trung đông bao nhiêu cũng không nhấc lên nỗi. Khi hay tin từ người dân báo về cung đình, thái tử Bắc Hải tìm đến để xem thực hư thê nào, thì khúc kỳ nam bỗng nhiên nhẹ tênh trong tay của thái tử.

Huyen tich bi an ve tram huong -
 Chân núi Đại Am là nơi  nữ thần Thiên Y A Na hiện thân.  
Trong một đêm trăng sáng như cảnh thần tiên, thái tử vô tình thấy một người con gái xinh đẹp tuyệt trần hiện ra từ khúc kỳ nam đặt trên giá. Thái tử vội chạy đến ôm chầm lấy, và sau đó xin với đức vua được cưới nàng làm vợ. sau một thời gian chúng sống trong cung điện lộng lẫy, một hôm nàng bỗng nhớ đến cha mẹ nuôi ở xứ Đại An nên đã hóa thân vào khúc kỳ nam để thả trôi trên biển tìm về với quê nhà.
Khi ngang qua vườn dưa cũ, mọi thứ vẫn còn đó nhưng hai vợ chồng ông lão đã qua đời từ lúc nào. Quá đau buồn trước sự ra đi của cha mẹ nuôi, Thiên Y A Na đã nhỏ lệ khóc thương, rồi sau đó xây đắp mộ tử tế cho hai người. Để trả ơn cho mãnh đất đã cưu mang nàng suốt thời gian qua, Thiên Y đã dùng tay hóa phép thành 4 cây trầm hương quý trấn ở 4 hướng đông tây nam bác ở mảnh đất Khánh Hòa, rồi sau đó cỡi hạt bay về trời mất tích.
Hiện nay, dấu tích về 4 cây trầm quý đó đến nay vẫn còn, nhưng được các “linh vật” canh gát cẩn thận nên không người nào có thể nhìn thấy được, nếu có nhìn thấy thì các cây này cũng “tự biến mất một thời gian rồi mới trở về vị trí cũ”. Đó là 1 cây ở Đổng Bò (Thành phố Nha Trang) trấn ở phía Nam; 1 cây ở Hòn Bà (thuộc huyện Ninh Hòa) trấn ở phía Bắc); 1 cây ở Hòn Dữ (huyện Duyên Khánh) và 1 cây ở Suối Ngô (huyện Duyên Khánh) trấn ở phía đông. Những cây trầm này được tương truyền rằng không còn lá, không còn giác, mưa nắng đều không thể làm hư mục được, và được xem như những báu vật của làng.
Dâng thần linh 13 mâm cỗ trước khi lên đường
Không chỉ những phu trầm mà tất cả những người đã bước chân vào nghề “địu” là phải biết đến những tín ngưỡng này. Bởi họ luôn tin rằng dù ở đâu đi chăng nữa thì cây trầm hương cũng là hóa thân của vị nữ thần cao quý Thiên Y A Na nên phải biết cung kính trước Người. Hơn nữa, con đường của những phu trầm thường thăm thẳm hiểm nguy vì phải sống trong những khu rừng âm u một thời gian dài. Những người phu trầm rất thận trọng tránh những sơ xuất mạo phạm đến thần thánh. Bởi họ tin rằng, thế giới tâm linh cũng tồn tại như con người đang sống, và mình tôn trọng họ thì họ mới giúp đỡ mình được.
Dân đi địu ngoài việc chọn bầu trưởng (người dẫn đầu nhóm phu trầm), phải chọn những người hợp tuổi để đi cùng nhóm với nhau. Một nhóm khoảng 7-15 người tùy vào từng đoàn. Bầu địu thường là những người có kinh nghiệm lâu năm trong nghề phu trầm, ngoài ra còn phải biết cách điều hành nhóm và quan trọng nhất lá Bầu địu phải thuộc các nghi lễ cúng kính trước khi vào khai thác trầm, có khi mang theo tượng của Nữ thần Thiên Y A Na. Phu trầm được cử này sẽ phải làm lễ “thỉnh tượng” từ tay các thầy mo có tiếng tăm trong làng về nhà mình. Rồi sau đó sẽ lau chùi sạch sẽ, bỏ vào lồng kính một cách trang nghiêm như thờ cúng tổ tiên.
Dân đi trầm thường tâm niệm rằng các con vật trong rừng đều là hóa thân của thần thánh nên phu trầm rất kiêng gọi tên trực diện mà thường nói trại sang một số tên gọi khác. Ví như khi gọi tên con cọp thì gọi thành “ông Thầy”, rắn thì được gọi là “cô dài”, trăn thì gọi là “Ngựa Bà”, heo thì gọi là “Dủi”…

Huyen tich bi an ve tram huong -
Nghề trầm hương “ăn thiên trả địa”.
Tương tự như thế đối với những loại khác như gạo (Me), muối (Diêm), đi lạc đường (lục xính), bị chảy máu (chảy mắm). Bởi vì sợ Thánh nữ quở phạt nên đa số những phu trầm thường hạn chế ăn thịt, và kiêng kị nhất là đối thịt kì đà (vì sợ xui xẻo) và thịt trăn, rắn (vì đây là vật cửi của Thánh nữ). Sau khi đã đi đến được khu rừng cần tìm kiếm trầm, Bầu địu sẽ tìm một bãi đất trống trãi và sạch sẽ, sau đó bảo những người trong nhóm đặt những vật dụng cúng kính lên trên tấm thảm mỏng trải dưới nền đất. Sau khi đốt nhang xin phép với “thần rừng” thì mọi người bắt đầu dựng trại để nghỉ ngơi qua đêm.
Đến tờ mờ sáng hôm sau thì tất cả đều thức dậy để chuẩn bị làm lễ cúng kính trước khi vào rừng. Điều đáng chú ý đối với những người dân địu là lễ cúng của họ phải đầy đủ 13 mâm và chủ yếu được cúng bằng đồ chay. Mâm cỗ đem đến cúng thường là xôi trắng, cháo trắng, bánh kẹo, nhang đèn và đặt biệt là phải có vài cây nhang làm từ trầm. Sau đó, mọi người lựa chọn những hòn đá vuông vén để đặt những đồ cúng này lên trên và Bầu địu có trách nhiệm sắp xếp giấy bạc để chuẩn bị cúng. Lễ phải chia thành 13 mâm và mâm cúng dành cho “Bà cậu 2” (là tên gọi của dân địu dùng để chỉ thánh mẫu Thiên Y A Na) là lớn nhất, đặt ở giữa và ở vị trí cao nhất so với các mâm còn lại. Sau khi tắm rửa sạch sẽ thay áo quần tươm tất, Bầu trưởng sẽ tiến hành lễ cúng”, phải thuyết phúc mãi ông Quả mới chia sẽ cho chúng tôi điều này.
Nghi lễ này bắt đầu từ trước giải phóng, và những phu trầm thực thụ thì mới biết đến những nghi lễ này. Những phu trầm đời sau cũng thực hiện nghi lễ nhưng với cách thức đơn giản hơn. Nội dung của nghi lễ này là nhằm cầu mong cho Nữ thần trầm hương ban cho phước lành để dân địu may mắn trúng được loại trầm quý. Vì ai cũng biết nữ thần chính là Bà chúa cai quản trầm hương ở mọi cánh rừng, và chỉ có cách dâng lễ để mong bà ban “lộc” cho những phu trầm, cầu ban sự bình an cho mỗi người. Đó cũng chính là tâm thức ngàn đời của những người đi trầm nơi đây vẫn tin, ký thác vào đất mẹ như một sự kỳ vọng cho ngày mai tốt đẹp hơn.
Di tích

TRÙNG TU DI TÍCH LỊCH SỬ NHỮNG VẤN ĐỀ NHỨC NHỐI
Di tích lịch sử – văn hóa là vốn quý của một dân tộc. Giá trị của di tích chỉ tồn tại – sống động khi nó không bị xâm hại hoặc làm biến dạng… Điều này phụ thuộc vào tư duy, trách nhiệm và thái độ ứng xử của con người – xã hội đương đại…
 

Nguồn: zing.vn

Xâm hại di tích – chuyện dài kỳ

Nhiều năm qua, dư luận xã hội cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng đã báo động về nạn lấn chiếm, xâm hại di tích lịch sử – văn hóa đến mức xót lòng, nhức nhối. Là nơi có 2/3 di tích của cả nước, TP Hà Nội đã đầu tư nhiều kinh phí và quỹ đất để giải tỏa xâm phạm di tích nhưng hiện cũng đang là địa phương có nhiều di tích bị xâm hại nhất. Theo thống kê, có 104 di tích tại Hà Nội (cũ) bị lấn chiếm, vi phạm. Đơn cử như: đền thờ Hai Bà Trưng ở phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng bị nhiều hộ dân lấn chiếm xây nhà kiên cố, làm cửa hàng buôn bán phụ tùng ô tô; đền Vọng Tiên ở Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm bị các hộ dân chiếm dụng làm cửa hàng buôn bán hàng mã; quán Chùa Huyền Thiên – phố Hàng Khoai bị biến thành nơi kinh doanh bát đĩa, chén sứ…

Tại TP Hồ Chí Minh, theo thống kê, số lượng di tích bị lấn chiếm khoảng 1/3, nặng nề nhất là di tích cấp quốc gia Phụng Sơn Tự (chùa Gò) ở quận 11. Theo UBND quận 11, hiện có đến 132 hộ dân đang xây dựng lấn chiếm, cư ngụ bất hợp pháp trên khuôn viên của di tích. Di tích chùa Giác Lâm – ngôi chùa cổ nhất ở TP Hồ Chí Minh cũng đang trong tình cảnh tương tự; hiện nay vẫn tồn tại 4 căn nhà xây cất lấn sâu vào khuôn viên chùa hàng trăm mét vuông…

Điều đáng nói là theo báo cáo của ngành chức năng thì tình trạng lấn chiếm di tích diễn ra ở hầu khắp các địa phương. Theo thống kê chưa đầy đủ, có 228/3.018 di tích xếp hạng quốc gia bị vi phạm, chiếm 7,5% và trong số 5.347 di tích xếp hạng cấp tỉnh, có 69 di tích bị xâm phạm, chiếm gần 1,3%. Xâm hại di tích là “chuyện dài kỳ” –  tồn đọng kéo dài mấy chục năm nay nhưng nhiều nơi chưa có biện pháp giải quyết…

Làm mới di tích – tình trạng phổ biến

Điều 4, điểm 13 Luật Di sản văn hóa quy định: “Phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh thắng là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử văn hóa, danh thắng đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử – văn hóa, danh thắng đó”. Như vậy, việc tu bổ, phục hồi di tích không cho phép đập bỏ để xây mới tùy tiện mà phải trên cơ sở các cứ liệu khoa học, không được làm biến dạng di tích.

Quy định là vậy nhưng tình trạng “làm mới”, “tân trang”, dẫn đến làm biến dạng di tích đang diễn ra khá phổ biến. Mượn danh nghĩa “trùng tu di tích”, nhiều nơi đã phá bỏ di tích cũ và xây lại thành hình hài mới một cách không thương tiếc vết tích cha ông, hồn cốt dân tộc. Mới đây nhất là 3 hạng mục gồm nhà tổ, gác khánh và thềm đá của chùa Trăm Gian bị phá đi xây mới khi chưa được sự đồng ý của các cơ quan chức năng. Đền Mẫu, ở Hưng Yên – một di tích cấp quốc gia quan trọng nằm trong quần thể di tích Phố Hiến, cũng bị tự ý cho xây mới… Hiện nay, đến với di tích Lam Kinh (Thanh Hóa), khu di tích Côn Sơn (Hải Dương), đền Đô (Bắc Ninh)… không ít người sẽ thấy ngỡ ngàng vì sự khác lạ của di tích sau khi được trùng tu, tôn tạo…

Có một thực tế, khi di sản văn hóa được công nhận danh hiệu cấp quốc gia hoặc quốc tế, không ít địa phương vội vàng tính đến chuyện làm du lịch. Khai thác theo kiểu tận thu di sản văn hóa đã gây ra nhiều hệ lụy đối với di sản. Chính do phát triển du lịch chạy theo lợi ích kinh tế thuần túy đã tác động tiêu cực làm hủy hoại môi trường, phá vỡ cảnh quan di tích…

Ứng xử với di tích – câu chuyện ý thức

Đến với nhiều di tích hiện nay, chúng ta không khó để “mục sở thị” những cảnh ứng xử không đẹp mắt. Đặc biệt, cách ứng xử đó lại diễn ra đối với một bộ phận là các sinh viên, học sinh, nghệ sĩ. Đáng buồn hơn là họ thản nhiên coi đây như những niềm vui, chiến tích để khoe hình ảnh trên blog, facebook của cá nhân hoặc trên các trang mạng xã hội mà chẳng hề coi đây là những hành động vi phạm pháp luật. Gần đây nhất, hình ảnh thật phản cảm của một danh hài trẻ đu người lên tượng đài chụp ảnh…

Đến bất cứ di tích nào, hầu như ở đâu ta cũng thấy, cũng bắt gặp những bức phù điêu, bia, tượng, cây cổ thụ… bị ký tên, khắc chữ. Người viết bài này cũng thấy thật xót xa khi thấy hệ thống tường bao xung quanh dãy “Chuồng cọp” trong cụm Di tích Nhà tù Côn Đảo là hạng mục nằm trong nhóm phải bảo vệ nghiêm ngặt, xuất hiện chi chít các vết vẽ, viết, chữ ký… bằng than, mực, sơn, phấn dày đặc…

Vài năm trở lại đây, cứ vào mùa thi, Văn Miếu – Quốc Tử Giám đông nghẹt vì học sinh, sinh viên đến cầu may. Xét ở một khía cạnh nào đó, đây là một thái độ thể hiện sự trân trọng với tiền nhân. Tuy nhiên, thái độ ứng xử đó đã bị những hành vi phản cảm làm lu mờ… Vì muốn “cầu may” nên nhiều người chen lấn để xoa bằng được đầu cụ rùa; thậm chí có người còn ngồi, hoặc đứng lên cụ rùa để chụp ảnh.

Rõ ràng với cách ứng xử của không ít người, đặc biệt là lớp trẻ đối với di tích không thể không lo ngại về ý thức văn hóa đang xuống cấp trầm trọng. Thực tế đó cũng cho thấy, giáo dục ý thức ứng xử đối với di sản – di tích cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Cùng với đó cần xử lý mạnh tay để răn đe những hành vi ứng xử thiếu tôn trọng với di tích lịch sử, văn hóa.

Thay cho lời kết

Hồ Gươm nhỏ bé như muôn vàn hồ, ao nơi thôn quê dùng để thả cá, thả sen. Nhưng, Hồ Gươm khác với vô vàn những cái hồ, ao khác không chỉ là con mắt của Thủ đô mà còn mang trong lòng nó một huyền thoại đẹp đẽ về Vua Lê trả kiếm cho rùa vàng. Hồ Gươm tồn tại cùng dòng chảy của thời gian và đồng hành lịch sử, là điểm hội tụ của những dòng người trong những ngày lễ trọng và là biểu tượng trong nỗi nhớ của mỗi người Việt xa cách Thủ đô. Hồ Gươm là di tích – di sản văn hóa sống động và linh thiêng giữa lòng Hà Nội ngàn năm văn hiến…

Nói như vậy để thấy rằng, giá trị và sức sống của di tích lịch sử – văn hóa không phụ thuộc vào cấp độ, tính chất, quy mô của di tích mà trông cậy vào sự kết tinh của các giá trị và cách ứng xử văn hoá phù hợp. Di tích luôn chứa giá trị khi nó tồn tại nhưng sự tồn tại – sống động của di tích phụ thuộc vào tư duy, trách nhiệm và thái độ ứng xử của con người – xã hội đương đại.

Di tích, Khám phá, Tin du lịch

Định Nghĩa Về Tattoo Mà Mọi Người Nên Biết

Tattoo có nghĩa là hình xăm, đây chủ yếu là nghệ thuật xăm hình đc những nghệ nhân phát minh từ mực xăm đặc biệt, hoặc hình dán, xuất hiện khả năng điều chỉnh sắc tố da. thời điểm tồn tại trên da còn tùy thuộc vào 3 một số loại hình Tattoo sau:

Kết quả hình ảnh cho tatoo

1. Xăm phun Tattoo (tồn ở vĩnh viễn): là cách một vài nghệ nhân dùng thiết bị phun xăm bằng mực, xăm lên trên da, để tạo ra khá nhiều mẫu hình xăm cùng Màu sắc có một không hai cũng như thật. nhưng mà ở quá trình xăm tất cả chúng ta nên chịu âu sầu rất nhiều, với mức chi phí cũng tương đối đắt.

2. Vẽ Henna Tattoo (lưu giữ gìn trên da từ 1 đến 3 tuần). Do thâu tóm được tâm lý của khá nhiều quý khách trẻ thích xăm hình nghệ thuật nhưng mà ngại gian khổ, cần một số kỹ thuật vẽ Tattoo nở rộ. Bắt nguồn từ cổ xưa xăm hình tại Ấn Độ. dần dần trở thành mốt tại trẻ tuổi hiện thời bởi sự đa dạng trong mẫu vẽ tương tự như giá cả rất nên chăng chỉ với 50.000 đến 100.000 đồng là bạn rất có thể sở hữu ngay một hình xăm cho bản thân. xăng vẽ hình xăm henna Tattoo cũng tương đối dễ dàng kiếm lại tương đối bình an, dễ dàng thích ứng cùng da. Chỉ phải vẽ, đợi khô, là một số quý khách sẽ thấy ngay “hình xăm” ưng ý.

tattoo la gi

3. Tattoo sticker (tồn trong vài ngày trên da): là các một số loại dán hình xăm Tattoo, là các hình có sẵn trên một số miếng dán. bạn chỉ cần dính vào, để một lúc, kế tiếp bóc ra là đã thấy 1 hình xăm suôn sẻ muốn. bạn sẽ không cần chịu ngồi hàng giờ cực khổ mà vẫn rất có thể xuất hiện đc hình xăm. Miếng dán này thấy dáng vẻ như thật, rất sinh động và cuốn hút về Màu sắc.

Ex: David Hale is a famous tattoo artist on The Word.

(David Hale được coi là một nghệ nhân xăm hình đình đám trên thế giới).

Ex: Why are the tattoos so appealing to some youths?

(Tại sao hình xâm lại thu hút những người trẻ đến thế?)

Ex: My husband has a big tiger tattoo in his back.

(Chồng cháu xuất hiện một hình xăm con hổ lớn sau lưng anh ấy).

Xem thêm các bài viết khác tại:

xăm hình Đà Nẵng bor tattoo

https://longbortattoo.com/hinh-xam-dep-sau-lung/

Di tích

Vẻ đẹp của Thánh Địa Mỹ Sơn đầy huyền bí

Tìm hiểu nét đẹp qua chuyến tham quan thánh địa Mỹ Sơn TP. Đà Nẵng là 1 hành trình hấp dẫn, được nhiều khách du lịch yêu thích. Với vẻ đẹp cổ kính đầy bí hiểm, thánh địa Mỹ Sơn mỗi năm đón nhận hàng trăm ngàn lượt các bạn trong & ngoài nước đến tham quan. Thánh địa Mỹ Sơn là 1 Khu di tích lịch sử đền tháp cổ, khi đến đây được UNESCO xác nhận là di sản văn hóa thế giới vào khoảng thời gian 1999. Nếu đang xuất hiện ý định du lịch khu đền tháp Mỹ Sơn khi tới Đà Nẵng, du khách hãy theo dõi nội dung bài viết dưới đây để có thêm cho bản thân những Thông tin chuyến tham quan cần thiết nhất.

Kết quả hình ảnh cho thánh địa mỹ sơn

Vị trí của thánh địa Mỹ Sơn

Thánh địa Mỹ Sơn nơi trưng bày cách trung tâm TP Đà Nẵng gần 70km về hướng tây Nam. Du khách rất có thể đơn giản thay đổi tới địa danh chuyến du lịch này bằng xe máy hay taxi. Nhà thờ Mỹ Sơn ẩn mình trong 1 thung lũng có đường kính 2km, bao quanh là núi. Tại đây có 1 mạch núi cao khoảng tầm từ 100 – 400m nối từ Đông Trường Sơn qua Mỹ Sơn tới kinh đô Trà Kiệu. Với địa thế núi non cao thượng, đến với thánh địa Mỹ Sơn ngoài các việc được tham quan các công trình xây dựng đền đài thâm nghiêm, du khách còn được tận hưởng không gian trong lành và và đắm ngập trong thiên nhiên xanh mát ở khi đến đây.

Vẻ đẹp kiến trúc của Thánh Địa Mỹ Sơn

Điều khiến khác nước ngoài chu đáo nhất tới nét đẹp nhà thời thánh Mỹ Sơn TP. Đà Nẵng có lẽ rằng là kiến trúc. Theo các tác dụng nghiên cứu và điều tra thì ngôi đền trước tiên ở thánh địa Mỹ Sơn bằng gỗ vào thế kỷ thứ 4. Sau này được kiến thiết lại bằng gạch, với kỹ thuật xây đắp độc đáo & đến nay vẫn là một ẩn số. Nhìn tổng thể về mặt phong cách xây dựng thì những đền tháp, lăng chiêu tập ở thánh địa Mỹ Sơn nơi ta cảm nhận được hội tụ của nhiều mẫu mã không giống nhau. Từ các kiểu cổ xưa, Hòa Lai, Đồng Dương, Mỹ Sơn cho đến Bình Định.

Kết quả hình ảnh cho thánh địa mỹ sơn

Thánh địa Mỹ Sơn gồm nhiều cụm tháp, bố cục mỗi cụm đều có 1 đền thờ chính, bao quanh là những tháp nhỏ dại & dự án công trình phụ. Trong những số đó, đền chính đặc trung cho TT của vạn vật & là nơi thờ phụng thần Siva. Mặt trước của mỗi cụm tháp là một cái cổng, tiếp đây là tiền đình địa danh bố trí lễ vật và múa hát nghi thức hành lễ bản sắc. Đi vào bên phía trong cụm đền tháp, khác nước ngoài sẽ thấy một công trình xây dựng luôn trở lại hướng bắc gọi là Kosa Grha.

Những tháp ở thánh địa Mỹ Sơn đều có hình chóp, theo ý niệm của người Chăm Phường cổ thì đây là biểu tượng của đỉnh núi Meru, địa điểm ở của những vị thần Hindu. Nếu du khách đã từng đến với tham quan Bà Nà Hills Đà Nẵng thì sẽ thấy những món đồ lưu niệm mô phỏng tấm hình những tháp ở thánh địa Mỹ Sơn rất khác biệt được làm bằng đá điêu khắc. Tour du lịch vị trí này, ngoài việc được chiêm ngưỡng nhiều tháp có kiến trúc đẹp, khác nước ngoài còn được thời gian đào bới những vị thần được trang trí bằng nhiều hoa văn tuyệt hảo.